Của bocchi từ viettlk, chưa xin phép.
Con người không thực sự thèm khát tự do, mà muốn được cai trị
Tại sao con người lại chấp nhận sự cai trị?
Bản chất của mối quan hệ giữa tự do và trật tự là gì?
Quyền lực thực sự đến từ đâu?
Vì tự do đi kèm với gánh nặng của trách nhiệm khủng khiếp và bắt buộc phải tự quyết giữa vô vàn lựa chọn – mà chỉ cần sai một cái là rớt xuống vực sâu .
Người ta nói rất nhiều về các chế độ độc tài Phát Xít Đức, Liên Xô, Trung Quốc , Marcos, Franco, Pinochet ai cũng thừa nhận đấy là những thứ khốn nạn nhất, vùi dập phẩm chất con người dưới họng súng để cho 1 lũ cầm thú chia chác trên mồ hôi , nước mắt người dân.
Nhưng làm sao bọn nó leo được tới đỉnh cao quyền lực đó mà không bị hất xuống dù sai rành rành trước mắt?
Bao nhiêu sĩ quan quân đội, công an, cảnh sát, công chức cho đến bọn cận kề với chúng mỗi ngày tại sao không lật đổ cái bộ máy đó đi?
Đáp án ở ngay đầu tít bài này.
Quyền lực độc tài không chỉ được áp đặt từ trên xuống.
Nó được kéo lên từ dưới đáy. Nó là một nhu cầu, một cơn khát của chính đám đông khi họ đã quá mệt mỏi, hoang mang và tuyệt vọng.
Như mọi kịch bản hoàn hảo nhất cho Hitler, Mao, Stalin, Saddam Hussin , Napoleon lên nắm quyền như thể được trải thảm đỏ sẵn cho chúng bước lên bằng đôi giày da được đánh sáng bóng đến mức soi gương được: một thằng dân tuý cung cấp liều thuốc cho nỗi sợ và một đám đông mất phương hướng cần tìm chỗ dựa dẫm.
Một mối cộng sinh bệnh hoạn sinh ra từ sự đồng thuận tuyệt vọng
Trong tuyệt tác “Anh em nhà Karamazov” của nhà văn Dostoevsky ở quyyển V “Thẩm phán” khi chúa Jesus trở lại trần gian nói chuyện với tên Đại Phán Quan hắn lập luận rằng:
Tự do lựa chọn giữa thiện và ác là một gánh nặng không thể chịu nổi.
Lão chỉ ra ba lần Chúa bị quỷ Sa-tăng cám dỗ trong sa mạc, và cho rằng lẽ ra Chúa nên chấp nhận những cám dỗ đó.
Ba cám dỗ đó chính là ba thứ mà nhân loại thực sự thèm khát, ba thứ có thể trói buộc lương tâm của họ mãi mãi:
- Phép màu (Miracle): Biến đá thành bánh mì. Lão nói, “Hãy cho họ bánh mì, rồi nhân loại sẽ chạy theo ngài như một đàn cừu.” Người ta thà làm nô lệ cho kẻ cho họ ăn, còn hơn là được tự do mà chết đói.
- Điều bí ẩn (Mystery): Gieo mình từ nóc đền thờ xuống. Lão cho rằng con người cần những điều bí ẩn, những thứ siêu nhiên để củng cố đức tin, chứ không cần một sự lựa chọn tự do.
- Uy quyền (Authority): Quỳ lạy Sa-tăng để nhận lấy toàn bộ vương quốc trần gian.
Lão nói đây mới là điều con người khao khát nhất: một quyền lực duy nhất, tuyệt đối trên toàn thế giới để tất cả cùng quy phục, để xóa bỏ sự lựa chọn và mang lại một sự thống nhất toàn cầu.
Lão Đại Phán quan kết luận rằng Tòa án Dị giáo của lão, bằng cách lấy đi tự do và ban cho nhân loại ba thứ đó – bánh mì, phép màu, và uy quyền – đã thực sự yêu thương nhân loại hơn cả Chúa.
Lão đã cho họ cái hạnh phúc yếu đuối của những đứa trẻ được chăn dắt, thay vì gánh nặng tự do khủng khiếp của người trưởng thành.
Đó là bí mật trần trụi quyền lực khi kẻ cai trị lẫn người bị trị đều sợ hãi một khoảng không mông lung, hỗn mang chấp nhận đánh đổi tự do lấy cái ảo tưởng về trật tự có kiểm soát.
Một cám dỗ khó lòng có thể chối từ.
Con người đa phần không thể sống mà chấp nhận “không có lối thoát rõ ràng” giữa thiên tai, đại dịch COVID, Chiến tranh , khủng hoảng kinh tế , vì nó buộc mỗi cá nhân đối mặt với sự vô định, bất toàn rằng mọi khả năng, nỗ lực giải quyết vấn đề đều như thầy bói xem voi, đi giữa đêm đen không có đèn.
Ai cũng mù nhưng tất cả chúng ta đều cần một kẻ ra vẻ mình là “người cầm đèn”.
Gã không cần phải đưa ra một lối thoát thật sự.
Gã chỉ cần chiếu ngọn đèn vào một con đường duy nhất, dù con đường đó có thể dẫn đến vực thẳm.
Gã nói: “Hãy đi theo ta! Kẻ thù chính là bọn chúng kia kìa! Mọi vấn đề của các người là do chúng nó gây ra!”
Như vậy hắn đã làm được ba việc cho 1 đám đông thèm khát “chiếc đèn”:
Một là Đơn giản hóa thế giới: Mọi sự phức tạp của kinh tế, chính trị, xã hội bỗng chốc được thu lại thành một cuộc chiến đơn giản giữa “chúng ta” và “chúng nó”.
Hai là Xóa bỏ trách nhiệm cá nhân: Người dân không cần phải suy nghĩ, phân tích hay chịu trách nhiệm nữa. Việc của họ chỉ là tin tưởng và đi theo.
Ba là Mang lại cảm giác thuộc về: Họ không còn là những cá nhân cô đơn, lạc lõng. Họ trở thành một phần của một phong trào, một đội quân chính nghĩa đang đi theo ngọn cờ của vị cứu tinh.
Cái khao khát này mạnh đến mức người ta sẵn sàng bỏ qua những lời nói dối, những hành động tàn bạo, những mâu thuẫn trong lời nói của “người cầm đèn”.
Bởi vì một lời nói dối có định hướng còn dễ chịu hơn một sự thật hỗn loạn.
Một nhà tù có trật tự còn an toàn hơn một khu rừng tự do đầy hiểm nguy.
Mọi chế độ cầm quyền sau khủng hoảng đều siết chặt lấy cái quyền lực “soi đường” mong manh bằng cách thuyết phục dân rằng hãy tin bọn ta đi, đừng chống đối làm gì sẽ có liều thuốc tiên giải quyết tất cả.
Người dân đã quá mệt mỏi , sợ hãi, bất lực để cho chúng nó tận dụng làm bàn đạp đàn áp quyền làm người.
Và chúng được mời vào nhà uống rượu vang cùng tiếng reo hò của những người đã quá chán ngán với việc phải tự mình tìm đường trong bóng tối.
Bi kịch lớn nhất không phải là việc một bạo chúa có thể tước đi tự do.
Bi kịch lớn nhất là một đám đông, khi đã đủ tuyệt vọng, sẽ tự tay mang tự do của mình đặt vào chân gã.
Hơn 2400 năm trước trong tác phẩm Cộng Hòa, Plato đã lập luận rằng dân chủ là một chế độ thối nát.
Vì sao? Vì nó tôn thờ tự do một cách vô độ.
Khi một xã hội “say xỉn tự do”, nó sẽ rơi vào hỗn loạn, mọi giá trị đảo lộn.
Và từ chính cái đống hỗn loạn đó, người dân, vì quá mệt mỏi, sẽ tìm kiếm và tôn một kẻ mạnh lên làm bạo chúa để “khôi phục trật tự”.
Và tao sẽ lấy ví dụ gần đây nhất ở Iran chỉ 12 ngày sau khi Israel ném bom.
Ngừng bắn nhưng việc đầu tiên tụi nó làm không phải lo cho dân bị thương, xây lại trường học, bệnh viện mà là đàn áp mầm mống chống đối.
Kẻ thù của bọn độc tài sợ nhất không phải là thế lực nước ngoài mà nằm chính trong nước – người dân bị cai trị.
Vì quyền lực chúng nó mong manh, không bền vững nên phải luôn luôn tạo ra vòng xoáy sợ hãi mới để bám quyền lực, bám lấy cái gia tài kếnh xù từ dòng tiền bẩn thỉu.
Dân Iran đúng là tức giận thật, họ chửi chính quyền đã gây chiến để rồi dân phải chịu khổ.
Nhưng tức giận là một chuyện, xuống đường biểu tình khi mà Vệ binh Cách mạng (Revolutionary Guards) và đội dân quân Basij đang lăm lăm súng trên đường lại là chuyện khác.
Dân chúng không ngu. Họ biết cái giá của sự chống đối.
Tụi nó chỉ cần giở lá bài “bất ổn nội bộ” thế là toàn bộ hệ thống an ninh đặt lên mức báo động nhằm dập lửa trước khi kịp bùng cháy tới ghế chúng nó ngồi.
Chúng sợ cái gì? Sợ gián điệp cài cắm, sợ bọn ly khai ở các vùng dân tộc thiểu số, và sợ cả cái đám đối lập lưu vong có thể dàn dựng tấn công.
Một kịch bản thật quen thuộc ở ngay cả xứ sở hình chữ S này không ngừng tuyên truyền mỗi ngày về một đám xa xôi nào đó để duy trì quyền lực của Đảng Cộng Sản.
Tao gọi nó là chiêu “Mượn Gió Bẻ Măng” hay “Khai thác Khủng hoảng để Củng cố Quyền lực”.
Ranh giới giữa “phản biện” và “phản quốc” bị xóa nhòa.
Bất cứ ai cất tiếng chỉ trích chính quyền, dù là về kinh tế, xã hội, hay bất cứ điều gì, đều có thể bị dán nhãn là “làm tay sai cho địch”, “phá hoại sự đoàn kết dân tộc”, “lợi dụng tình hình để gây rối”.
Cái cớ “an ninh quốc gia” trở thành một tấm séc trắng cho phép chính quyền làm bất cứ điều gì chúng muốn.
Chuyện này lặp lại bao nhiêu lần rồi?
Nhiều lắm nhưng tụi mày hay quên:
- Nước mỹ sau 11/9/2001: dùng PATRIOT ACT để nghe lén, theo dõi công dân Mỹ, bắt người quy mô lớn không cần lệnh toà án. Ai phản đối chiến tranh Iraq đều bị coi là “ủng hộ khủng bố”. Edward Snowden đã làm lộ hết tất cả và vẫn bị săn lùng đến ngày nay.
- Nước nga cuối những năm 1990: sau vụ đánh bom chung cư bí ẩn 1999 bị đổ lỗi cho người Chenchnya là cơ hội vàng cho Putin leo lên ngai vàng bằng “bàn tay sắt” không nương tay với khủng bố.
- Thổ Nhĩ Kỳ sau đảo chính hụt năm 2016: Tên Erdogan dùng cớ này để ban bố tình trạng khẩn cấp, phát động một cuộc đại thanh trừng như Stalin.
Hơn 150.000 công chức, giáo viên, thẩm phán, sĩ quan quân đội bị sa thải hoặc đình chỉ.
Hơn 50.000 người bị bắt giữ. Hàng trăm cơ quan truyền thông bị đóng cửa.
Gã không chỉ nhắm vào những người trực tiếp tham gia đảo chính.
Gã nhắm vào tất cả những ai có tư tưởng đối lập, từ những người theo giáo sĩ Gulen, các nhà hoạt động người Kurd, cho đến giới học giả tự do.
Và gần đây nhất là Trung Quốc với Việt Nam thời kỳ đại dịch COVID-19 với danh nghĩa chống dịch cưỡng ép người dân vào các khu cách ly y tế rồi bỏ đói khát, làm tiền từ Kit Test Việt Á và các chuyến bay giải cứu thu lời trắng trợn.
Người dân bị bắt cài app có “mã sức khoẻ” nghe thì để truy vết COVID nhưng lại thành một công cụ kiểm soát xã hội, một cái vòng kim cô kỹ thuật số.
Chính quyền có thể “hóa đỏ” mã của bất kỳ nhà hoạt động, người biểu tình nào để ngăn họ đi lại, tụ tập, hay thậm chí là vào siêu thị.
Cuộc khủng hoảng y tế đã hợp pháp hóa và bình thường hóa một hệ thống giám sát toàn dân mà trước đây họ chỉ có thể mơ tới.
Vậy khi nào thì khối u này chết? Và sau khi nó chết thì sao?
Trụ cột đầu tiên gãy: “Người dân ngừng sợ”.
Vì nỗi sợ là chất keo dính xã hội trong một chế độc tài, người ta sợ mất đi công việc, thu nhập nuôi gia đình và một tương lai sáng sủa.
Nó làm liều thuốc giảm đau để tiếp tục sống dưới ách cai trị còn hơn là chết vô định.
Nhưng liều thuốc này có ngưỡng quá liều.
Những cái bụng đói meo, con cái chết không có thuốc chữa, đồng tiền mất giá trị , việc làm bấp bênh và đài TV vẫn ca ngợi thành tựu kinh tế bền vững.
Lúc đó, hai hiện thực sẽ chạy song trong não người dân: một cái thiên đàng được tuyên truyền vẽ nên và một cái địa ngục không lối thoát hiện ra hằng ngày.
Một hành động đàn áp thô bạo cuối cùng được nhìn thấy và không ai gồng nữa, không ai tin nữa.
Những tiếng im lặng thành gào thét.
Những cánh tay chỉ đẩy xe cút kít giờ cầm băng rôn xuống đường biểu tình.
Ban đầu chỉ là tiếng thỏ thẻ từ đám nhỏ lẻ rồi nhân lên gấp bội.
Khi con người nhìn thấy lẫn nhau: “tao không đơn độc”.
Một chế độ như Liên Xô đã chết như thế khi tiến vào thế lưỡng nan chế người:
đàn áp quá mạnh thì tạo ra thánh tử đạo và đổ thêm dầu vào lửa; đàn áp không đủ mạnh thì trông yếu đuối và khuyến khích thêm nhiều người nổi dậy.
Tuy nhiên, một đám đông tay không thường khó thắng được một đội quân chuyên nghiệp. Điều đó dẫn đến cái chân thứ hai, cái chân quyết định tất cả.
Trụ cột thứ hai: “Đám cầm súng ngừng tin”.
Đây là điểm bùng phát, là khoảnh khắc một cuộc biểu tình biến thành một cuộc cách mạng.
Tại sao một thằng lính lại hạ súng, tại sao một tay công an lại quay lưng với mệnh lệnh cấp trên?
Thứ nhất, vì tiền. Một chế độ vỡ nợ, ngân khố rỗng tếch thì cái tiền lương mua chuộc lòng trung thành của lính, công an không trả được nữa.
Không ai trung thành với một cái bụng đói và lời hứa rỗng tếch. Đó là vì sao hai bộ công an và bộ quốc phòng luôn hưởng nhiều tiền nhất.
Thứ hai là niềm tin biến mất. Mọi chế độ độc tài như Mao nói “quyền lực sinh ra từ nòng súng” nhưng mà phải dạy cho thằng lính cầm nó biết tin.
Nó vẫn là con người , gia đình ở quê nhà đang đói nhưng đám tướng lãnh thì tham nhũng, ăn trên ngồi trốc trong khi nó phải đi bắn người dân cùng làng, cùng xóm.
Đụng chuyện thì tụi cầm đầu với quai hàm sao vạch bỏ chạy, đào ngũ.
Vậy lúc này mệnh lệnh “bắn” còn ý nghĩa phục tùng vô điều kiện không còn hỏi “tại sao” nữa đâu rồi?
Một quân nhân được dạy , đào tạo để nghe lệnh như cái máy không được suy nghĩ mà giờ sụp đổ trách nhiệm.
Đó là lúc hệ thống sụp đổ từ bên trong về mặt đạo đức.
Chả cần nhìn đâu xa, chính VNCH làm ví dụ.
Năm 1975, quân Cộng Sản nổ súng chiếm được Tây Nguyên rồi thì các bố tướng tá thi nhau bỏ chạy qua mỹ để lại quân không tướng như lính mất đầu, vụ này được tả chi tiết trong hồi ký “Tháng Ba gãy súng” của Trung uý TQLC Cao Xuân Huy.
Cầm súng để chết ai nữa khi hệ thống sụp rồi?
Chính nghĩa quốc gia chỉ là trò tuyên truyền không hơn kém gì trò “XHCN = nghèo nhưng công bằng”
Cuối cùng nằm ở việc có kẻ cầm đầu mới.
Một phe phái trong quân đội hay an ninh nhìn thấy cơ hội. Một vị tướng có uy tín quyết định rằng thời thế đã thay đổi. Hắn sẽ dẫn quân về phe nhân dân, hoặc đơn giản là làm một cuộc đảo chính. Bức tường bạo lực của chế độ nứt toác. Đây chính là cách Ceaușescu của Romania sụp đổ. Khi quân đội quay súng cho phe đối lập, trò chơi kết thúc.
Trụ cột cuối cùng: Không còn ai bảo vệ cho khỏi sụp.
Không một chế độ độc tài nào có thể tồn tại lâu dài nếu bị cô lập hoàn toàn.
Chúng luôn cần một “bệ đỡ” từ bên ngoài , một cường quốc bảo kê về mặt ngoại giao, cung cấp vũ khí, tiền bạc, và một nơi để tẩu tán tài sản.
Liên Xô từng đỡ cho Đông Âu.
Mỹ từng đỡ cho các chế độ độc tài quân sự ở Nam Mỹ.
Trung Quốc đang đỡ cho nhiều chế độ ở châu Phi đứng vững.
Cái chân kiềng này gãy khi nào?
Khi thằng bảo kê thấy rằng việc tiếp tục đỡ cho cái chế độ sắp chết này quá tốn kém, quá rủi ro, và không còn mang lại lợi ích.
Hoặc bản thân thằng bảo kê cũng đang khủng hoảng, không còn sức mà lo cho đàn em.
Khi Liên Xô rút lui khỏi Đông Âu năm 1989, các chế độ ở đó sụp đổ như domino.
Khi Mỹ bỏ rơi Ngô Đình Diệm hay Shah của Iran, số phận của họ được định đoạt.
Mất đi bệ đỡ bên ngoài là một tín hiệu cho tất cả các thế lực bên trong rằng:
“Con tàu đang chìm. Hãy nhảy đi.”
Khi cả ba cái chân kiềng cùng gãy thì sao?
Chuyện sẽ không tốt đẹp như thể sẽ lập được một chế độ dân chủ tự do tốt đẹp hơn trước kia.
Mà bi kịch đã lặp lại nhiều lần, một thứ còn tồi tệ hơn trong ngắn hạn: khoảng trống quyền lực (power vaccum) được sinh ra.
Một con hổ già làm chúa sơn lâm bấy lâu nay mà chết đi, khu rừng sẽ không được yên bình lập tức.
Nó trở thành một bãi chiến trường nơi những con chó sói, linh cẩu, và những con hổ non lao vào xâu xé cái xác và tranh giành lãnh thổ.
Có ba kịch bản thường thấy nhất chính là:
- Nội chiến: Các phe phái quân sự, các nhóm sắc tộc, các lãnh chúa địa phương từng bị chế độ cũ đè nén nay sẽ nổi lên và đánh nhau. Syria và Libya là những ví dụ nhãn tiền.
- Một bạo chúa mới: Một vị tướng từ chế độ cũ sẽ bước ra, dẹp tan hỗn loạn bằng bàn tay sắt và tuyên bố “khôi phục trật tự”. Vòng lặp lại bắt đầu.
- Sự tan rã: Đất nước có thể vỡ ra thành nhiều mảnh dựa trên lằn ranh sắc tộc hoặc tôn giáo, như Liên Xô hay Nam Tư.
Sự sụp đổ của một chế độ độc tài không phải là trang cuối của một cuốn sách.
Nó chỉ là dấu chấm hết cho chương một.
Những chương đẫm máu, hỗn loạn và bất định nhất thường lại là những chương sau đó.
Việc xây dựng một nền dân chủ từ đống tro tàn của một chế độ độc tài là công việc khó khăn và hiếm khi thành công nhất trong lịch sử chính trị.
Bởi vì sau khi “người cầm đèn” cũ chết đi, đám đông vẫn mù lòa như cũ, và họ sẽ lại điên cuồng đi tìm một “người cầm đèn” mới.
Nếu cái đám hô hào tự do-dân chủ Việt Nam không chịu thừa nhận sự thật này thì phong trào của chúng nó chỉ là võ mồm.
Vậy có lối thoát không?
Cực kỳ hiếm. Nếu không muốn nói gần như không thể.
Có 2 case study thực sự thành công và điều kiện của nó xảy ra là “một chuỗi hoàn hảo điều kiện” từ nhiều yếu tố kết hợp lại chứ không phải công thức có thể sao chép.
Không có câu chuyện nào về “nhân dân thức tỉnh” ở đây.
Chỉ là ván cờ chính trị tàn nhẫn , nơi sự thoả hiệp sinh ra từ nỗi sợ sụp đổ mọi thứ của các bên.
Trường hợp thứ nhất: Tây Ban Nha – “Cái Chết của Bạo Chúa và Di Chúc Bất Ngờ.”
Tên bạo chúa Francisco Franco cai trị Tây Ban nha 40 năm từ thời WW2 tạo nên một xã hội bị chia rẽ sâu sắc.
Quân đội và cảnh sát mật vẫn trung thành tuyệt đối với hắn mãi cho đến năm 1955, hắn ta chết do suy tim ở tuổi 82.
Cả thế giới lẫn châu âu nín thở chờ đợi một cuộc nội chiến nhưng không xảy ra.
Tại sao vậy?
Đầu tiên, và có lẽ là yếu tố may mắn nhất, chính là di chúc của Franco.
Gã đã chọn Vua Juan Carlos I làm người kế vị, với niềm tin rằng vị vua trẻ sẽ tiếp tục con đường độc tài.
Nhưng Franco đã tính sai. Juan Carlos, một người bị coi là bù nhìn, lại chính là con ngựa thành Troy.
Ngay khi có quyền lực, ông ta đã dùng chính cái uy quyền mà Franco trao cho để từng bước tháo dỡ chế độ.
Ông ta bắt tay với các nhà cải cách, mà tiêu biểu là Thủ tướng Adolfo Suárez.
Thứ hai, sự trỗi dậy của giai cấp trung lưu.
Nhiều thập kỷ tăng trưởng kinh tế dưới thời Franco, được gọi là “Phép màu Tây Ban Nha”, đã tạo ra một tầng lớp trung lưu đông đảo, có học thức, và sống ở thành thị.
Tầng lớp này khao khát hội nhập với châu Âu, khao khát tự do chính trị, nhưng đồng thời họ cũng sợ hãi sự hỗn loạn và một cuộc nội chiến mới có thể cướp đi tất cả những gì họ đang có.
Họ trở thành một lực lượng đòi hỏi sự thay đổi, nhưng là thay đổi trong ôn hòa và trật tự, chứ không phải cách mạng lật đổ.
Thứ ba, là một cuộc mặc cả vĩ đại giữa các phe phái của tầng lớp tinh hoa.
Các nhà cải cách và phe ôn hòa trong chế độ cũ đã ngồi lại với nhau.
Họ hiểu rằng nếu không thỏa hiệp, tất cả sẽ cùng chết.
Họ đã làm một việc không tưởng: ký “Hiệp ước Lãng quên” (Pact of Forgetting), một dạng luật ân xá để không khơi lại hận thù của cuộc nội chiến, để tránh một vòng xoáy trả thù.
Đây là một sự khôn ngoan chính trị tàn nhẫn, chấp nhận chôn vùi công lý để có được hòa bình.
Cuối cùng, là sức hút không thể cưỡng lại từ bên ngoài.
“Tấm vé” gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (tiền thân của EU) là một củ cà rốt khổng lồ.
Nó hứa hẹn sự thịnh vượng, đầu tư và vị thế quốc tế.
Nhưng điều kiện để có được tấm vé đó là Tây Ban Nha phải trở thành một nền dân chủ ổn định.
Cái giá của việc tiếp tục độc tài là bị cô lập và nghèo đói.
Trường hợp thứ hai: Hàn Quốc – “Khi Con Rồng Kinh Tế Đòi Hỏi Linh Hồn Dân Chủ.”
Hàn Quốc đằng sau phép màu kinh tế kỳ tích trỗi dậy thành con rồng kinh tế là một chuỗi chế độ quân phiệt tàn bạo được Mỹ chống lưng.
Bọn nó tưởng có thể dùng thành tích đấy để duy trì cái ghế nhưng không chính sự thành công đã đào mồ chôn cho chế độ.
Yếu tố quyết định ở đây là mâu thuẫn nội tại của sự phát triển.
Chế độ độc tài cần một lực lượng lao động có trình độ cao để vận hành một nền kinh tế công nghiệp, công nghệ.
Nhưng khi người dân được giáo dục, họ sẽ không chấp nhận bị cai trị như một bầy cừu.
Chế độ đã tạo ra một tầng lớp sinh viên và công nhân đông đảo, có tổ chức, và họ trở thành động lực chính cho các cuộc biểu tình.
Thứ hai, là một xã hội dân sự kiên cường và có tổ chức.
Các phong trào sinh viên, công đoàn lao động, và đặc biệt là các tổ chức nhà thờ (Thiên Chúa giáo và Tin Lành) đã trở thành những hạt nhân của sự phản kháng.
Họ bền bỉ, can đảm, và không bao giờ bỏ cuộc, ngay cả sau những cuộc thảm sát đẫm máu như ở Gwangju năm 1980.
Thứ ba, là giới hạn của bạo lực.
Đỉnh điểm là Phong trào Dân chủ Tháng Sáu năm 1987. Hàng triệu người thuộc mọi tầng lớp đã xuống đường.
Chế độ của Chun Doo-hwan đứng trước lựa chọn: hoặc tạo ra một Thiên An Môn thứ hai, điều sẽ hủy hoại hoàn toàn nền kinh tế và hình ảnh quốc tế của Hàn Quốc ngay trước thềm Olympic Seoul 1988; hoặc nhượng bộ.
Và đây là lúc nội bộ chế độ rạn nứt.
Roh Tae-woo, người được Chun Doo-hwan chọn để kế vị, nhận ra rằng đàn áp không còn là một lựa chọn bền vững.
Để tự cứu mình và cứu lấy sự ổn định của cả hệ thống, Roh đã bất ngờ “phản thùng”, chấp nhận yêu cầu của người biểu tình về bầu cử tổng thống trực tiếp.
Đó là một nước cờ tự bảo tồn, không phải là sự giác ngộ dân chủ.
Tất cả những điều này diễn ra dưới áp lực ngầm từ Mỹ. Washington, với tư cách là người bảo trợ, ngày càng cảm thấy xấu hổ với đồng minh độc tài của mình và lo sợ sự bất ổn có thể gây hại cho lợi ích của Mỹ trong khu vực.
Vậy công thức hiếm hoi cho một cuộc chuyển đổi hòa bình là gì? Nó cần một sự hội tụ của:
- Một tầng lớp trung lưu đủ lớn, những người muốn thay đổi nhưng sợ hỗn loạn.
- Một sự rạn nứt trong chính nội bộ chế độ, nơi một phe cải cách thắng thế hoặc một nhà lãnh đạo quyết định thay đổi để tự cứu mình.
- Quân đội chấp nhận đứng trung lập hoặc bị vô hiệu hóa, không tuân lệnh đàn áp dân chúng.
- Sự tồn tại của một xã hội dân sự có tổ chức để dẫn dắt và duy trì áp lực.
- Một yếu tố bên ngoài đủ mạnh để gây áp lực hoặc tạo sức hút (kinh tế hoặc chính trị).
Nó không phải là một phép màu.
Nó là kết quả của một ván bài mà ở đó, tất cả các tay chơi lớn đều nhận ra rằng một cuộc chuyển đổi trong ôn hòa là lựa chọn ít tồi tệ nhất cho lợi ích của chính họ.
Đó là lý do tại sao nó lại hiếm đến vậy.
Vậy còn Việt Nam thì sao?
Tao đã để sẵn câu trả lời rồi đấy tự suy ngẫm đi.
Leave a comment