Của bocchi viettalk, chưa xin phép
Mày có sợ chết không?
“Chỉ có một vấn đề duy nhất của Triết học thật sự nghiêm túc là tự sát”, Albert Camus đã nói thế.
Mọi câu hỏi , vấn đề cao siêu đều trở nên vô nghĩa nếu chính mình còn không biết nói sao về:
Liệu đời tao có đáng sống nữa không? Sống tiếp như súc vật hay chết trong âm thầm , đó mới là vấn đề. (To be or not to be).
Nhà khắc kỷ Seneca đã từng nói, như thể để trả lời câu hỏi đó:
“Sometimes even to live is an act of courage… A wise man lives as long as he ought, not as long as he can.” (Đôi khi, ngay cả việc sống cũng là một hành động dũng cảm… Người khôn ngoan sống đến khi họ nên sống, chứ không phải sống đến khi họ có thể sống.)
Cái chết là sự kết thúc công bằng nhất cho mọi sinh vật từng tồn tại trên thế gian.
Dù là kẻ giàu hay bần hàn, một con gián hôi dưới ống cống hay đại bàng vỗ cánh ; tất cả đều sẽ chết.
Chúng mày nói quá nhiều về tình yêu, hạnh phúc, sự tồn tại, của cải nhưng khi đề cặp đến cái chết – thứ ngày một tiến gần hơn trong mọi giây phút trong đời trở nên vặt vãnh, thỉnh thoảng mới hiện hữu trong các buổi tang lễ ; những lời cầu nguyện mau chóng an nghỉ ở bất cứ tôn giáo nào.
Nói thẳng ra là tụi mày biết nhưng luôn tản lờ nó đi như thể ngày ấy sẽ không bao giờ tới.
Tại sao con người sợ chết đến vậy?
Đó là vì: không biết gì.
Một cảm giác hoang mang, vô định về sự hành trình liệu có lối thoát nào không?
Thiên đàng , địa ngục, cực lạc hay chỉ là cái chớp tắt vụt rồi đen như màn đêm như thể chưa từng tồn tại?
Có cái địa ngục nào để tra tấn trong vạc dầu sôi dành cho kẻ phạm tội hay thiên đàng ân sủng cho kẻ sống đời đạo đức không?
Cái lõi tận cùng của sợ chết nguyên thuỷ và còn hoảng loạn bám víu lấy cái bản ngã hơn nữa.
Không chỉ là không có gì xảy ra mà là níu kéo những gì ta đã biết.
Mất cái “tôi”. Mất cái tên, khuôn mặt, ký ức; những yêu thương và thù hận rèn nén hun đúc lên chính con người này.
Không ai sợ màn đêm u tịch mà sợ mất đi ánh sáng đang có.
Không người nào sợ cõi hư vô chỉ níu lấy ly cà phê buổi sáng, cảm giác bực bội khi kẹt xe, mất đi cái ôm của một người yêu; mất cả nỗi đau dằn vặt vì tiền lương không đủ sống ; mất những giấc mơ chưa thành toại.
Tất cả những thứ đó tạo nên “con người” , là bằng chứng “tao đang tồn tại” và cái chết xoá xổ nó như cái ổ cứng bị đập nát rồi thiêu rụi như thể tất cả những dữ liệu đó đều biến mất.
Và đó là lúc hệ thống quyền lực nhảy vào, trao một cánh tay cứu rỗi.
Tôn giáo nhìn nỗi sợ nguyên thành một sản phẩm có thể mua được.
Họ không bán sự thật mà chỉ kể một câu chuyện có hậu làm như liều thuốc giảm đau: thiên đàng, địa ngục, luân hồi, … tất cả đều để xoa dịu cái nỗi sợ bị xoá xổ.
Họ nói:
“Đừng lo, mày không biến mất đâu, chỉ là chuyển nhà thôi. Nhưng muốn có nhà đẹp thì phải nghe lời tao”.
Xã hội hiện đại làm tiêu tan niềm tin vào tôn giáo nhưng bản chất vẫn vậy, không bán vé lên thiên đàng nữa mà cho thuốc gây tê.
Nó nói:
“Đừng nghĩ về cái chết, hãy nghĩ về chiếc iPhone mới, chuyến du lịch sắp tới, bộ phim sắp ra mắt, mục tiêu thăng tiến trong sự nghiệp”
Mày sẽ chạy theo một cái guồng quay vô tận của ham muốn, đoạt lấy thành tựu thoả mãn cái tôi để không còn thời gian rảnh mà đối mặt với cái chết nữa.
Tao biết mày sẽ nói “nhưng tao bận sống lắm”, không, mày chỉ đang chạy trốn thôi đến mức quên mất mình đang sống vì cái gì.
Nền kinh tế này buộc mày chạy theo nó, đu theo trend mới làm mày quên mất chuyện bạn bè, người yêu, cha mẹ sẽ rời xa mày ; không có cuộc sống vĩnh cữu nào ở đây.
Cả hai hệ thống này, tôn giáo và chủ nghĩa tiêu dùng, đều có chung một mục đích: ngăn mày chấp nhận cái chết như một phần tự nhiên của sự sống.
Bởi vì một khi mày chấp nhận nó, mày sẽ trở nên khó kiểm soát hơn. Khi mày không sợ cái tất yếu sẽ đến thì án tử hình hay những tháng ngày dài trong ngục từ đều giống nhau. Vì mày sống trong hiện tại.
Mày sẽ không còn sợ địa ngục, và mày cũng chẳng còn quá mặn mà với những món đồ vô tri trên shoppe được giảm giá 50-60%.
Mày sẽ bắt đầu hỏi những câu nguy hiểm hơn:
“Nếu chỉ có từng này thời gian, tao nên dùng nó vào việc gì? Ai đang hưởng lợi từ nỗi sợ và sự bận rộn của tao?”.
Hãy nhớ đến câu latin này:
“Respice post te. Hominem te esse memento. Memento mori!”
Câu đó có nghĩa là:
“Nhìn lại sau lưng mày đi. Nhớ rằng mày chỉ là một con người thôi. Nhớ rằng mày sẽ chết.”
Khi một vị tướng la mã thắng trận trở về được tung hô như vị thần trong buổi lễ mừng chiến thắn là lúc hắn nghĩ mình sẽ sống bất tử mãi mãi.
Một người nô lệ thấp hèn sẽ nhắc lại câu nói trên kéo hắn ta về lại mặt đất nhằm nhắc nhở rằng vinh quang này chỉ là tạm thời, còn cái chết mới là vĩnh viễn.
Nhưng chúng mày đã quên , thậm chí còn biến việc trì hoãn cái chết thành tôn giáo mới.
Không có vị thần nào phán xét nhưng là công nghệ ban tặng sự sống dài lâu bằng y học, dược phẩm, phẫu thuật, máy móc duy trì sự sống.
Bệnh viện trở thành chiến trường, bác sĩ là tướng, và cái chết là kẻ thù cần bị tiêu diệt bằng mọi giá.
Kẻ bán niềm tin đó không còn là các tu sĩ mặc áo đen mà là “Tổ hợp Y tế – Công nghiệp” (Medical-Industrial Complex).
Nó bán cho mày sự trì hoãn cái chết được thêm vài năm nữa, nếu chết quá nhanh gọn thanh thản ở nhà thì đúng là thảm hoạ kinh tế cho túi tiền bọn này.
Nó muốn mày phải trải qua một quá trình hấp hối kéo dài hàng tháng, hàng năm trong phòng ICU (Chăm sóc đặc biệt) với hàng tá máy móc, thuốc men đắt tiền để đào mỏ đến từng cắc bạc cuối cùng.
Một cái chết như thế là núi lợi nhuận khổng lồ vì mỗi người con, cha mẹ không ai muốn rời xa , chấp nhận rằng không thể cứu chữa được nữa.
Đừng nghĩ rằng không ở trong bệnh viện là có thể xa lánh nỗi sợ trần trụi đó.
Cái nguy hiểm hơn là công nghệ “mềm”: mạng xã hội, ngành công nghiệp giải trí, tin tức 24/7, thế giới ảo.
Đây không phải là thuốc để chữa bệnh, đây là thuốc phiện để quên đi bệnh.
Nó không trì hoãn cái chết của cơ thể, nó trì hoãn việc chúng ta phải đối mặt với ý niệm về cái chết.
Cả ngày mày lướt TikTok, xem Netflix, cãi nhau trên mạng, làm việc điên cuồng… tất cả đều là những hoạt động được thiết kế để lấp đầy mọi khoảng lặng.
Bởi vì trong khoảng lặng đó, những câu hỏi lớn sẽ trồi lên.
“Tao đang làm gì với đời mình? Và rồi sao nữa?”.
Hệ thống này không muốn mày hỏi câu đó.
Nó đưa cho mày một liều dopamine tức thời khác để mày tiếp tục chạy, tiếp tục tiêu thụ, tiếp tục bị phân tâm cho đến khi đèn tắt.
Và cái giá phải trả cho sự trì hoãn này là gì?
Thứ nhất, chúng ta đánh đổi chất lượng lấy số lượng.
Ta có thể sống đến 90 tuổi, nhưng 20 năm cuối cùng có thể là chuỗi ngày lay lắt, phụ thuộc vào máy móc, mất đi nhân phẩm, trở thành gánh nặng cho chính mình và người thân.
Chúng ta ám ảnh với việc kéo dài nhịp tim mà quên mất chất lượng của cuộc đời nằm giữa nhịp đập đầu tiên và cuối cùng.
Chúng ta kéo dài sự tồn tại, nhưng lại đánh mất sự sống.
Thứ hai, chúng ta phi tự nhiên hóa và y tế hóa cái chết.
Chết không còn là một sự kiện của gia đình, của cộng đồng, một nghi lễ thiêng liêng diễn ra tại nhà.
Nó trở thành một sự cố kỹ thuật trong một môi trường vô trùng, lạnh lẽo của bệnh viện, được quản lý bởi những người xa lạ.
Quyền được chết một cách thanh thản bị tước đoạt.
Người ta sợ cái chết đau đớn, kéo dài và vô nghĩa còn hơn cả chính cái chết.
Cuối cùng, sự trì hoãn này không làm chúng ta bớt sợ. Nó chỉ làm cho nỗi sợ trở nên âm ỉ và bệnh hoạn hơn.
Giống như việc mày cứ trì hoãn một cuộc nói chuyện khó khăn, sự căng thẳng chỉ càng ngày càng lớn.
Xã hội hiện đại không nói về cái chết, nhưng nó bị ám ảnh bởi tuổi trẻ, sức khỏe, sự an toàn. Mọi thứ đều được bọc trong bong bóng, được khử trùng, được bảo hiểm. Đó không phải là dấu hiệu của sự tự tin, đó là biểu hiện của một nỗi kinh hoàng bị dồn nén.
Những tay trùm công nghệ ở Silicon Valley bây giờ còn đi một bước xa hơn: họ muốn “hack” cái chết, muốn tải ý thức lên mây, muốn đạt được sự bất tử kỹ thuật số.
Đó là đỉnh cao của sự kiêu ngạo, là sự từ chối hoàn toàn bản chất con người.
Lời thì thầm “Memento Mori” của người nô lệ La Mã đã bị át đi bởi tiếng bíp bíp của máy đo nhịp tim và tiếng thông báo không ngừng của điện thoại thông minh.
Nó không còn là “Hãy nhớ rằng ngươi sẽ chết”.
Nó đã biến thành “Đừng chết! Hãy mua sản phẩm này, xem chương trình kia, thử liệu pháp nọ…”.
Và trong cái mệnh lệnh vô lý đó, chúng ta quên mất cách để sống.
Tự sát hay là quyền được chết, tự định đoạt kết thúc của mình?
Đây là đoạn kết sau cùng của triết học. Nơi mà rất ít triết gia nào bước chân nhìn thẳng vào vực sâu để nó nhìn lại mình.
Nơi cá nhân tự do nhất để mình được ra đi ,giải thoát khỏi nỗi đau thực tại không lối thoát là chết.
David Hume trong luận văn “Về tự sát” đã từng nói rằng:
“I believe that no man ever threw away life while it was worth keeping.” (Tôi tin rằng không ai từng vứt bỏ cuộc sống khi nó còn đáng để giữ.)
Arthur Schopenhauer còn đi xa hơn, ông tấn công thẳng vô thứ đạo đức răn dạy mày:
“They tell us that suicide is the greatest piece of cowardice… when it is quite obvious that there is nothing in the world to which every man has a more unassailable title than to his own life and person.”
(Họ nói với chúng ta rằng tự sát là hành động hèn nhát lớn nhất… trong khi quá rõ ràng rằng không có gì trên đời này mà mỗi người có quyền bất khả xâm phạm hơn chính mạng sống và thân thể của mình.)
Immanuel Kant đặt câu hỏi khác rằng:
“He who contemplates suicide should ask himself whether his action can be consistent with the idea of humanity as an end in itself.”
(Kẻ định tự sát nên tự hỏi liệu hành động của mình có phù hợp với ý niệm coi nhân loại là một mục đích tự thân hay không.)
Triết học không quan tâm đến những lời răn giảng đạo đức, lòng trắc ẩn chỉ thấy được một nỗi sợ mất kiểm soát.
Từ Plato với “Cộng hòa” cho đến Kant với “Phê phán lý tính thực tiễn”, mục tiêu cuối cùng của họ là gì? Là xây dựng một hệ thống tư tưởng mạch lạc, một bộ quy tắc (luân lý, chính trị, siêu hình) để lý giải và vận hành thế giới. Một hệ thống, để tồn tại, phải có quy tắc.
Tự sát là hành động phá vỡ mọi quy tắc.
Nó là cái nút “tự hủy” (self-destruct) mà bất kỳ kiến trúc sư hệ thống nào cũng phải kinh sợ.
Nếu mày thừa nhận “tự sát là một lựa chọn hợp lý và tự do”, thì toàn bộ công trình của mày về bổn phận, về mục đích sống, về khế ước xã hội có nguy cơ sụp đổ.
Nó là một cái backdoor (cửa hậu) chết người trong hệ điều hành tư tưởng mà họ đang viết. Kant không thể chấp nhận tự sát vì nó vi phạm “mệnh lệnh tuyệt đối” (categorical imperative) , nó không thể được phổ quát hóa thành một quy luật tự nhiên mà không tự mâu thuẫn. Một thế giới mà mọi người đều có quyền tự sát khi thấy khổ sẽ tự hủy diệt chính nó.
Hầu hết triết học phương Tây, kể cả những nhánh bi quan nhất, đều bắt đầu với một tiên đề ngầm: sự sống, hoặc ít nhất là “ý chí sống” (Will-to-Live), là thứ cơ bản, là điểm khởi đầu.
Triết học bi quan như Schopenhauer cũng không ủng hộ tự sát.
Lão cho rằng tự sát không phải là sự phủ định ý chí sống, mà ngược lại, là một sự khẳng định méo mó của nó. Người tự sát không ghét sự sống, họ ghét điều kiện sống của họ.
Họ vẫn muốn hạnh phúc, vẫn muốn thỏa mãn ý chí, nhưng vì bất lực nên mới chọn cách phá hủy biểu hiện của ý chí đó là cơ thể. Theo lão, đó là một sai lầm, một sự đầu hàng. Lối thoát thực sự là khổ hạnh (asceticism), là dập tắt ý chí từ bên trong, chứ không phải đập vỡ cái bình chứa nó.
Và sau đây là lời của tao, không phải từ một triết gia Tây phương nào.
Câu hỏi của tao là:
“Tại sao sự sống lại mặc nhiên đáng quý?”
Hãy nói đầu tiên về nhà nước và pháp luật.
An tử (euthanasia) hay trợ tử (assisted suicide) bị cấm, coi như hành vi giết người người kể cả được thân chủ muốn và cam kết như thế.
Trước đây Quốc Hội Việt Nam từng bàn về Right to Die (Quyền được chết) xong rút lại.
Ở Hà Lan có luật “Termination of Life on Request and Assisted Suicide (Review Procedures) Act” từ năm 2002, cho phép bác sĩ không bị truy tố khi thực hiện an tử trong trường hợp bệnh nhân chịu đau đớn không thể chịu nổi và không có khả năng cải thiện.
Ở Mỹ ban hành Luật về “Death with Dignity” (Quyền chết trong phẩm giá) tương tự ở Oregon, California, Washington, Vermont, Montana, Colorado.
Nhưng tựu trung đều muốn: cấm mày có quyền được chết hoặc cố tình gây khó dễ bằng hàng loạt thủ tục pháp phức tạp làm nản lòng người thực sự muốn ra đi.
Tại sao lại thế ?
Vì chúng nó nhìn mày như một loại tài sản, một đơn vị kinh tế tiêu thụ sản phẩm, một thằng lính dự bị chứ không phải một con người bằng xương bằng thịt, có nỗi đau dằn vặt, có niềm hạnh phúc muốn sống.
Con người hiện đại trên con mắt của nhà lập pháp chẳng hơn gì con số GDP, con số thống kê và đóng thuế nuôi bộ máy công quyền lạnh lùng.
Không ai thực sự được xem là sinh mệnh tự do, có phẩm giá.
Một công dân như thế mà tự sát chẳng khác nào cú tát vào mặt rằng lời hứa hẹn trần thế là sự thất bại đến mức cái chết đáng ao ước hơn , đe doạ sự ổn định bộ máy vì sẽ có thêm chuỗi domino đổ sập sau khi những người chung tần số sẽ cộng hưởng với nhau “tao không đơn độc”.
Nếu quyền tự sát được hợp pháp hóa, nó sẽ mở ra một cái hộp Pandora:
Liệu những người lao động kiệt quệ có chọn ra đi thay vì đình công?
Liệu những người cùng khổ có chọn lối thoát thay vì chờ đợi phúc lợi?
Nhà nước không sợ mày chết.
Nó sợ mày nhận ra mày có một lựa chọn mà nó không thể kiểm soát.
Tiếp theo ta hãy nói về tôn giáo mặc dù sức ảnh hưởng đã bị suy giảm nhiều nhưng nó vẫn còn tồn tại ở dạng đạo đức đã được duy trì thành niềm tin không thể lay chuyển sau 2000 năm qua.
Tôn giáo bán cho mày một hợp đồng bảo hiểm cho kiếp sau, và điều khoản nhỏ nhất ghi rằng: mày không được tự hủy hợp đồng.
Sự sống là “món quà của Chúa”, và chỉ có Chúa mới có quyền lấy lại.
Nếu mày có thể tự mình định đoạt, vai trò của thầy tu, của nhà thờ, của toàn bộ hệ thống cứu rỗi trở nên vô nghĩa. Mày đã tự mình đảm nhận vai của Chúa.
Đó là sự báng bổ lớn nhất không phải vì nó xúc phạm Chúa, mà vì nó làm cho tổ chức của Chúa trên mặt đất trở nên thừa thãi.
Họ mất đi quyền lực phán xét, quyền lực ban ơn, và quan trọng nhất, quyền lực gieo rắc nỗi sợ.
Ở Việt Nam tuy không phải là mấy nhà dòng nhưng về bản chất đám nhà sư quốc doanh cũng y hệt nhau, cũng đem đi bán mấy cái giấc mơ về nghiệp báo, luân hồi, công quả như trò cày rank để kiếp sau hưởng lợi rồi cúng tiền vào quỹ chùa, thời gian để đi nghe răn giảng.
Kẻ thứ ba góp mặt ở đây là ngành công nghiệp y tế-công nghiệp , lũ đạo đức giả hơn cả tôn giáo.
Chúng nhân danh sự sống để kéo dài sự hấp hối trong đau đớn, vì thế khi bệnh nhân nan y muốn được an tử (enthanasia) là nỗi sĩ nhục với những gì nó tuyên bố.:
“Công nghệ của mày đã thất bại. Thuốc của mày vô dụng. Máy móc của mày chỉ là công cụ tra tấn. Tao từ chối làm khách hàng của mày nữa.”
Cả một ngành công nghiệp trị giá hàng ngàn tỷ đô la được xây dựng trên việc trì hoãn cái chết, không phải để nâng cao chất lượng sống.
Cái chết của bệnh nhân là một thất bại kỹ thuật, nhưng sự lựa chọn chủ động của bệnh nhân để chết lại là một sự sụp đổ về mặt ý thức hệ.
Nó chứng minh rằng có những thứ còn quan trọng hơn cả nhịp đập của quả tim: đó là nhân phẩm.
Nietzsche đã nói với sự khinh bỉ sâu sắc:
“In a certain state, it is indecent to live longer. To go on vegetating in cowardly dependence on physicians and machinations, after the meaning of life, the right to life, has been lost, that ought to be a cause for profound contempt in society.”
(Trong một trạng thái nhất định, việc sống lâu hơn là không đứng đắn. Việc tiếp tục sống như thực vật trong sự phụ thuộc hèn nhát vào các bác sĩ và máy móc, sau khi ý nghĩa của cuộc sống, cái quyền được sống, đã mất đi, điều đó đáng phải bị xã hội khinh bỉ một cách sâu sắc.)
Và sợi dây trói buộc cuối cùng với sự tự do chính là xã hội và gia đình , thứ nhà tù vô hình trói lấy nhau bằng tội lỗi, trách nhiệm và sự soi mói từ đôi mắt láng giềng.
“Mày không được chết vì như vậy là ích kỷ.”
“Mày phải sống vì con cái, vì cha mẹ.”.
Cái “bài ca đạo đức” ở đây biến một con người thành một con tin của tình yêu thương.
Người ta không muốn mày sống vì hạnh phúc của mày.
Người ta muốn mày sống để họ không phải đối mặt với sự trống rỗng, tội lỗi và phức tạp mà cái chết của mày để lại.
Mày bị buộc phải tồn tại để xoa dịu nỗi bất an của người khác
Lời kết:
Tao không được chọn được nơi mình sinh ra, đó là một sự áp đặt.
Cái chết là sự giải thoát công bằng duy nhất.
Quyền được chọn thời điểm và cách thức của sự giải thoát đó chính là tuyên ngôn độc lập cuối cùng của một con người.
Cản trở cái quyền đó không phải là hành động bảo vệ sự sống.
Đó là hành động bảo vệ quyền lực, bảo vệ lợi nhuận, và bảo vệ sự yên ổn giả tạo của những kẻ đang sống trong sợ hãi.
Nỗi sợ lớn nhất không phải là mày sẽ chết.
Nỗi sợ lớn nhất của tất cả các hệ thống này là mày sẽ nhận ra, ngay cả khi đang sống, rằng mày thực sự tự do.
Và một người thực sự tự do thì không thể bị cai trị.
Albert Camus đối mặt với sự phi lý (absurd) của vũ trụ, nhưng cuối cùng lão chọn cái gì?
Lão chọn “sự nổi loạn” (rebellion) tức là tiếp tục sống, nhìn thẳng vào sự phi lý và khinh bỉ nó.
Lão nói: “Chỉ riêng cuộc đấu tranh để vươn tới đỉnh cao cũng đủ để lấp đầy trái tim một con người. Ta phải hình dung Sisyphus hạnh phúc.”
Tại sao?
Vì Camus hiểu rằng nếu câu trả lời cho sự phi lý là tự sát, thì đó sẽ là một lời mời gọi đến sự tuyệt vọng và hư vô hàng loạt. Đó là một trách nhiệm mà lão không muốn gánh. Lão đưa ra một giải pháp lãng mạn, một lối thoát anh hùng để con người có cái mà bám víu vào. Đó là một liều thuốc giảm đau có ý thức.
Tao từ chối đưa ra một lối thoát vọng tưởng không hề tồn tại trên đời, đó là trách nhiệm với sự thật trần trụi rằng tao sẽ chết có thể ngày mai hoặc trong 40-50 năm tới trên chiếc giường bệnh nào đó.
Mọi xiềng xích đều là vọng tưởng của những câu chuyện kể ra bởi hệ thống áp bức và đám trục lợi tiếp tay về “sự sống”, “tiêu dùng” “KOL”, “ung thư” , đốt nó đi, nhìn thẳng vào vực sâu mày sẽ được tự do.
Những áp lực, căng thẳng do chính hệ thống này tiếp tay khiến cuộc đời mày thở ngạt bây giờ nhẹ nhàng hơn cứ bình lặng mà sống , chấp nhận cái chết chắc chắc sẽ đến và mày sẽ không còn phải sợ thêm nữa.
Tao không kêu mày tự tử , chỉ muốn mày ngồi lại một chỗ “30-40 năm tới tao sẽ chết vây giờ tao sống sao cho đời mình không còn phải gồng gánh một căn nhà được vay nợ 20 năm mới được coi là thành công?”.
Leave a comment