Của bocchi từ viettalk, chưa xin phép.
Quyền lực sụp đổ khi không còn một ai tin câu chuyện được kể: Liên Xô, tại sao sụp?
Bí mật của quyền lực của mọi chế độ cai trị từ bộ lạc cho đến nhà nước hiện đại không phải từ súng, gươm đao hay đại bác mà nằm ở việc độc quyền kể câu chuyện.
Não người vốn ghét sự trống rỗng, mơ hồ, mông lung và phức tạp không thể hiểu được thế nên là sơ hở để tầng lớp tinh hoa chính trị nhét vào một câu chuyện đơn giản để giải thích được tại sao chúng nó xứng đáng cầm quyền.
Và cái đó đi vào sách giáo khoa với cái tên rất kêu “hợp thức hoá tính chính danh chế độ cầm quyền” nhưng thực ra chỉ là đảm bảo câu chuyện được người ta vẫn tiếp tục tin.
Dù đó là chế độ nào đi nữa thì motip vẫn là:
Tao cầm quyền là nhờ thiên mệnh/ý chúa/dân bầu/cách mạng/tất yếu lịch sử/….
Đều giống nhau về bản chất khác mỗi tên gọi, nhưng câu chuyện đó phải kể làm sao cho thật mơ hồ, phức tạp , khó hiểu và đó là sân chơi của một nhóm tinh hoa mà tao gọi là tầng lớp tu sĩ diễn giải điều vô lý thành chân lý.
Đó là ai? Là những bậc thầy phù thuỷ của thế kỷ 21 gồm giới kỹ trị , tài chính, ngân hàng, công chức, giảng viên, chính trị gia, nhà phân tích, giáo sư, tiến sĩ,..vvv và danh sách còn rất dài phía sau nhưng tất cả bọn chúng tồn tại vì một mục đích duy nhất: bảo vệ hệ thống niềm tin , độc quyền diễn giải sự thật.
- Nhà kinh tế học là một tu sĩ. Anh ta vẽ những biểu đồ phức tạp để diễn giải rằng lạm phát là “tất yếu” và thắt lưng buộc bụng là “cần thiết” – một câu chuyện về sự hy sinh.
- Nhà khoa học dữ liệu là một tu sĩ. Anh ta thiết kế những thuật toán quyết định mày sẽ thấy gì trên mạng xã hội, qua đó kể cho mày một câu chuyện về những gì là “quan trọng” và “đáng quan tâm”.
- Chuyên gia truyền thông là một tu sĩ. Anh ta biến một vụ sa thải hàng loạt thành một cuộc “tái cấu trúc chiến lược”, kể một câu chuyện về sự tối ưu và hiệu quả.
- Chính uỷ (Sĩ quan chính trị) là tu sĩ*. Anh ta kể câu chuyện để những thằng cầm súng tiếp tin đang chiến đấu cho chính nghĩa, mặc dù đạn đã bắn ra thì chẳng phe nào là chân lý chỉ máu, bùn và xương.*
Khi thực tại phũ phàng (khủng hoảng kinh tế, bất công xã hội) mâu thuẫn với câu chuyện chính thức (“đất nước đang phát triển ổn định”), tầng lớp tu sĩ này sẽ lập tức vào việc.
Họ sẽ tung ra một bản “cập nhật” cho câu chuyện: “Đây chỉ là khó khăn tạm thời”, “là do yếu tố toàn cầu”, “cần có những biện pháp đau đớn nhưng cần thiết” , “ở trên tính hết rồi”.
Họ không giải quyết vấn đề. Họ diễn giải lại vấn đề để nó không làm sụp đổ câu chuyện lớn (grand narrative).
Cơ chế đấy phải buộc lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi tầng lớp lao động chiếm 99% dân số ngừng thắc mắc, đặt câu hỏi “tại sao?” và tự nghĩ những câu chuyện giới tinh hoa kể cũng là của chính họ đó là căn nguyên của mọi chế độ cầm quyền – không bền vững mà duy trì bằng niềm tin mong manh.
Mọi chế độ đều có ngày tàn của nó khi không còn đủ sức tung ra bản cập nhật vá những lỗ hổng niềm tin rằng chính nó xứng đáng cầm quyền.
Một khi đứa công nhân bắt đầu hỏi: “tại sao tao phải chịu đựng ách cai trị vô lý này?” là lúc quyền lực sụp đổ là khởi đầu của cách mạng Pháp, Mỹ, Nga.
Đó là lúc câu chuyện đã mất đi phép màu của nó.
Đó là lúc người ta nhận ra vị hoàng đế đang trần truồng.
Nhưng hệ thống hiện đại có cơ chế phòng thủ tinh vi hơn, khi tầng lớp lao động bắt đầu hỏi tại sao ngay lập tức sẽ có hàng tá câu chuyện nhỏ khác được nhét vào đầu anh ta:
“Tại mày khổ là do dân nhập cư.”
“Tại mày khổ là do phe đối lập đang phá hoại.”
“Tại mày khổ là do mày lười biếng, không chịu học kỹ năng mới.”
“Tại mày khổ là do một thế lực thù địch bên ngoài.”
Hệ thống không chỉ kể một câu chuyện lớn về sự chính danh. Nó còn kể hàng trăm câu chuyện nhỏ để chia rẽ và làm chệch hướng sự giận dữ của những người dám đặt câu hỏi.
Vấn đề không nằm ở cái tên gọi, dù là Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên hay Liên bang Nga hoặc Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ , mày chỉ cần nhìn vào 3 thứ để biết một chế độ chính trị đó đang thịnh vượng, suy tàn và đang trên bờ sụp đổ là:
- Cách hệ thống quyền lực vận hành
- Cách chia quyền lợi, phân miếng bánh cho các nhóm lợi ích
- Cách kiểm soát, cân bằng quyền lực để tránh bị tha hóa
Nếu một hệ thống vận hành tốt thì miếng bánh lợi ích được chia đủ đa chiều (dù có bất bình đẳng tự nhiên vẫn có). Nó có khả năng tự sửa lỗi, lắng nghe phản hồi từ dân để điều chỉnh chính sách kịp thời.
Có đủ khoảng trống để thay thế lãnh đạo, chuyển giao quyền lực êm đềm mà không cần nội chiến hay đảo chính, tất nhiên vẫn phải có đấu đá nội bộ tranh giành chiếc ghế.
Đồng thời là cơ chế kiểm tra chéo để ai cũng phải chơi theo luật, không cho phép ai trở thành vua chúa tuyệt đối. Đối với kẻ phá luật chơi chung lẫn tên trọng tài biến chất đều phải bị thay thế , gạt ra khỏi gồng máy.
Hiến Pháp Mỹ nếu nhìn thực tế chỉ là 1 tờ giấy viết luật chơi chứ chẳng có quyền lực gì nếu người ta không tin và thực thi, niềm tin đó đến từ Chúa trời ban cho họ và sự hình thành 13 bang đầu tiên.
Nước Mỹ không phải là chế độ hoàn hảo bên trong chứa quá nhiều bất công từ chênh lệch giàu nghèo, phân biệt chủng tộc, lạm phát cao, y tế đắt đỏ,…vv nhưng chính vì người dân vẫn tin vào luật chơi chung để tự sửa chữa bộ máy, thay máu mới khi có vấn đề xảy ra chứ ko sụp vì không còn ai tin nữa.
Một chế độ toàn trị là khi nó tiêu diệt 3 điều cốt lõi trên để lại những tràng pháo tay và những chồng báo cáo láo từ cấp dưới.
Nếu có cái xác nào cần khai quật mà có tính tương đồng với VN hãy gọi tên: Liên Bang Xô Viết.
Thật kỳ lạ làm sao, một siêu cường tồn tại 74 năm, cạnh tranh với nước Mỹ về số đầu đạn hạt nhân, vệ tinh phóng lên vũ trụ và những công trình hoành tráng lại đột ngột sụp đổ mà không ai thèm cứu lấy dù ở thời điểm đó vẫn có 25 triệu đảng viên Đảng cộng sản.
Sử gia phương Tây lẫn TQ và VN đều cố tìm ra câu trả lời nhưng tao nghĩ khác, nó nằm ở ba điều tiên quyết để mọi chế độ liên tục cầm quyền: khả năng tự sửa lỗi, lắng nghe phản hồi từ dân để điều chỉnh chính sách kịp thời.
Một cơ thể dù to xác đến đâu khi bơm vào bơm vào lượng thuốc độc vẫn sẽ chết nhưng chậm rãi hơn nếu không hệ miễn dịch để bảo vệ các tế bào khoẻ mạnh còn lại của mình.
Chế độ toàn trị dù là Saddam Hussein, Liên Xô, Trung Quốc, Đức Quốc Xã, Pinochett,..vv đều sợ hãi những tiếng nói đối lập , phản biện, những phân tích trái chiều, cảnh báo từ giới trí thức chính là đang tiêu diệt chính những tế bào cảm nhận cơn đau cuối cùng của hệ thống.
Một cơ thể không biết đau là một cơ thể sắp chết. Nó sẽ chảy máu đến chết mà không hề hay biết, nó sẽ bị hoại tử mà không cảm thấy gì.
Vì sao vậy? Học thuyết Mác-Lenin nói rằng nhà nước mang bản chất giai cấp để trấn áp các tầng lớp bị trị có phần đúng nhưng chưa đủ, nói chính xác hơn là một guồng máy nơi có những thành phần bánh răng vận hành chi tiết như chiếc đồng hồ Thuỵ Sĩ.
Vấn đề nằm ở chỗ người cầm lái con tàu này có thực sự nghe đúng thực địa không hay chỉ là một thực tại ảo giác tạo ra bởi chính những công chức mẫn cán trung thành với chế độ chỉ lo “không làm sai” tức là:
Chỉ báo cáo những gì cấp trên muốn nghe , không đến mức nói dối trắng trợn chỉ là làm sao cho tin tốt được phóng đại, tin xấu bị giảm nhẹ đóng gói vào những từ ngữ trung tính còn tệ quá thì bị ém nhẹm hoàn toàn.
Thế là người đứng đầu bộ máy dù lãnh tụ, tổng thống, tổng bí thư, đại giáo chủ nhận được một phiên bản thực tại đã được khử trùng, một bức tranh được tô hồng rực rỡ.
Khi một bộ máy quá to lớn và cồng kềnh dẫn đến Triệt tiêu sáng kiến, chờ chỉ đạo. Một chính sách khoán hộ ở Vĩnh Phúc dù hiệu quả nhưng bị coi là “vượt quyền” hay “không tuân thủ chỉ đạo” khiến Bí thư Kim Ngọc bị kỷ luật làm tấm gương cho toàn nhân sự hệ thống như các cấp phó, giám đốc sở, bí thư tỉnh… sẽ có xu hướng trở thành những cỗ máy thừa hành.
Họ sẽ không giải quyết vấn đề cho đến khi có chỉ thị rõ ràng từ trung ương. Điều này làm cho cả hệ thống trở nên cứng nhắc và chậm chạp, đặc biệt nguy hiểm trong một thế giới biến động liên tục về kinh tế và địa chính trị như cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung.
Nhà độc tài cầm quyền thực ra biến thành một nhà tù trên ngai vàng , bị cô lập trên đỉnh kim tự tháp.
Mặc dù mọi người sẽ tuân theo lệnh của ông ta nhưng sẽ không bao giờ biết được mệnh lệnh đó khi đi vào thực tế sẽ tạo ra hệ quả gì cho đến khi quá muộn y hệt như cải cách Giá-Lương-Tiền tạo ra siêu lạm phát hồi những năm 80s.
Nếu một nhà lãnh đạo thông minh bám sát thực tế như Võ Văn Kiệt, Trường Chinh đứng trước sự khủng hoảng đó, họ sẽ cố phá vỡ bong bóng thông tin đang che giấu con mắt mình thường thì chính bộ máy cũng lừa dối chính họ bằng 2 cách.
Cách 1: “Vi hành” – Các chuyến thị sát đột xuất. Nhưng trong thực tế, không có gì là đột xuất cả.
Cả một hệ thống địa phương sẽ được huy động để dàn dựng một vở kịch hoàn hảo.
Ông ta sẽ chỉ gặp những “quần chúng” đã được lựa chọn, thăm những “gia đình kiểu mẫu”, và nghe những “báo cáo điển hình”. Vở kịch càng thành công, ông ta càng tin rằng mình đang nắm được thực tế, và cái bong bóng càng dày hơn.
Cách 2: Dùng một kênh thông tin song song. Thường là qua bộ máy an ninh, tình báo.
Họ được giao nhiệm vụ báo cáo “sự thật” không qua bộ lọc hành chính.
Nhưng kênh này cũng có điểm mù của nó. Bộ máy an ninh có lợi ích và góc nhìn riêng.
Họ có xu hướng nhìn đâu cũng thấy “mối đe dọa”, “bất ổn”, “âm mưu” để biện minh cho sự tồn tại và quyền lực của mình.
Nhà lãnh đạo chỉ đang đổi một cặp kính màu hồng lấy một cặp kính màu đen. Ông ta thoát khỏi sự tô hồng của quan chức dân sự để rơi vào cái bẫy bi quan hóa của giới an ninh.
Đó là điều khiến điểm mù của ông Tô Lâm ngày càng trở nên nguy hiểm , không chỉ là chuyện đấu đá nội bộ trong cuộc thâu tóm quyền lực dưới danh nghĩa ‘sát nhập tỉnh thành’.
Nó ảnh hưởng đến khả năng phản ứng chính sách kinh tế (lạm phát, FDI, thất nghiệp), xử lý các điểm nóng xã hội (tranh chấp đất đai, đình công), và đặc biệt là khả năng xoay xở trong chính sách đối ngoại.
Khi các cường quốc đang kéo co, một quyết sách sai lầm dựa trên thông tin lệch lạc từ cấp dưới có thể trả giá bằng cả vận mệnh quốc gia.
Cái giá của việc leo lên đỉnh kim tự tháp làm tầm nhìn càng hẹp.
Quyền lực tuyệt đối không biến người nắm giữ nó thành Chúa, nó biến ông ta thành tù nhân của chính bộ máy mà ông ta đã tạo ra. Ông ta có thể thấy mọi thứ từ trên cao, nhưng chỉ qua một tấm kính đã được cấp dưới kỳ cọ và đánh bóng cẩn thận.
Friedrich Hayek đã từng nói vấn đề này trong The Knowledge Problem rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm tập trung quyền ra quyết định vào một nhóm nhỏ ở trung ương đều sẽ thất bại, không phải vì họ ngu dốt hay độc ác, mà vì họ mù thông tin một cách cố hữu.
Ronald Wintrobe viết The Dictator’s Dilemma rằng kẻ độc tài ngồi được lâu nhờ dân chúng muốn hắn leo lên chiếc ghế đó và hắn phải biết những người mình cai trị đang nghĩ gì, có đang âm mưu nổi loạn không.
Nhưng chính sự cai trị hà khắc của ông ta lại khiến mọi người sợ hãi không dám nói thật.
Nếu ông ta nới lỏng kiểm soát để người dân dám nói thật, thì chính sự tự do đó có thể được dùng để lật đổ ông ta.
Nếu ông ta siết chặt kiểm soát để giữ an toàn, ông ta sẽ hoàn toàn mù tịt về thực trạng xã hội và không lường trước được các cuộc khủng hoảng.
Đây là một cái bẫy không lối thoát. Kẻ độc tài bị buộc phải lựa chọn giữa việc bị lật đổ trong ánh sáng hoặc chết trong bóng tối do chính mình tạo ra. Mọi hệ thống tập trung quyền lực đều mắc kẹt trong thế lưỡng nan này.
Giờ hãy đi xét tới case study cụ thể đã mắc kẹt trong thế lưỡng nan và sụp đổ: Liên Xô.
Hệ thống đàn áp, giám sát của KGB và các cơ quan đảng uỷ phải nói là không có kẽ hở nào cho mầm mống phản loạn nào xảy ra nhưng chính nó đã kéo lùi cả bộ máy chỉ vì tính ì ạch, quan liêu , chậm chạp trong việc cập nhật bản vá phần mềm.
Cái ‘ổn định’ mà Đảng dùng biện minh cho tính chính danh hiện nay y hệt 18 năm trị vì của Brezhnev (1964-1982).
Không hứa hẹn thiên đường cộng sản như Lenin , không thanh trừng đẫm máu như Stalin, không còn những cải tổ hỗn loạn dưới thời Khrushchev và mọi người sẽ được yên tĩnh, đừng mong đợi sự thay đổi gì cứ bình lặng trôi qua.
Đó là sự ổn định của một cái xác đang trong quá trình đông cứng lại, là sự tĩnh lặng của một đầm lầy. Người ta gọi nó bằng một cái tên chính xác hơn nhiều: Thời kỳ Trì trệ (Застой – Zastoi).
Và Brezhnev thực sự giữ lời hứa trong suốt 18 năm như vậy.
Cỗ máy quan liêu thời ông ta được bơm máu bởi trái tim của nó là tầng lớp Nomenklatura – danh sách các chức vụ được Đảng bổ nhiệm.
Đây là một tầng lớp quý tộc mới, không phải quý tộc dòng máu, mà là quý tộc của sự trung thành và thâm niên. Khẩu hiệu không chính thức của thời kỳ này là. “Ổn định cán bộ” (стабильность кадров).
Nó có nghĩa là một khi mày đã vào được một vị trí trong hệ thống, mày gần như có nó cả đời.
Không ai bị sa thải. Thăng tiến không dựa trên năng lực, mà dựa vào việc chờ đợi cấp trên của mày chết hoặc về hưu.
Thế là hình thành một chế độ lão trị (gerontocracy) theo đúng nghĩa đen.
Một thằng lãnh đạo trẻ cỡ u30-40 chỉ có thể ngồi chờ cấp trên của nó chết hoặc về hưu trong 5-10 năm tới rồi vòng lặp tái diễn.
Bộ chính trị ĐCSLX là ví dụ rõ nhất, nhìn y chang cái viện dưỡng lão hơn là cơ quan quyền lực, gần cuối đời Brezhnev nhìn như cái xác biết đi, phải có người dìu, đọc những bài phát biểu được viết sẵn mà không hiểu mình đang nói gì.
Toàn bộ máy Xô viết vận hành theo đúng hình ảnh người đứng đầu: già nua, chậm chạp , bảo thủ chống mọi sự thay đổi.
Cái sự cứng nhắc này vận hành trong thực tế như thế nào?
Một cơn ác mộng khủng khiếp của nền kinh tế chỉ huy, kế hoạch hoá mọi thứ từ cây bút chì, đôi giày tới vũ khí nguyên tử.
Nền kinh tế kế hoạch hóa từ trung ương (Gosplan) là một con quái vật mù lòa. Các nhà hoạch định ở Moscow cố gắng quyết định xem một nhà máy ở Siberia cần sản xuất bao nhiêu đôi giày, một nông trường ở Ukraine cần bao nhiêu máy kéo.
Công cụ chính họ dùng là phương pháp “cân đối vật chất” (material balance planning).
Mày thử tưởng tượng nó giống như cuốn sổ kế toán khổng lồ cho nền kinh tế của 22 nước Cộng Hoà trải dài từ Đông Đức tới tận biên giới giáp Alaska.
Một cột bên kia là “NGUỒN CUNG” (sản xuất trong nước + nhập khẩu + tồn kho).
Ở bên kia là cột “NHU CẦU” (tiêu dùng của người dân, nhu cầu của các nhà máy khác, quân đội, xuất khẩu).
Nhiệm vụ của Gosplan là làm cho hai cột này cân bằng với nhau đối với hàng ngàn mặt hàng thiết yếu, từ tấn than đá, mét vải, phô mát, lò sưởi tới những mặt hàng khí tài quân sự.
Cái điều điên rồ nhất là đến cuối những năm 1960, toàn bộ những phép tính khổng lồ này vẫn phải thực hiện bằng tay.
Hàng ngàn nhà kinh tế và kế toán ngồi trong các văn phòng ở Moscow, với những chiếc máy tính cơ học và thước loga, để cố gắng cân đối cái bảng cân đối đó. Không có siêu máy tính, chỉ có con người và giấy tờ.
Vì không có tín hiệu thị trường, họ dựa vào cái gì? Họ dựa vào những bản báo cáo láo.
Đây là lúc văn hóa pripiski (ghi khống, báo cáo láo) lên ngôi.
Giám đốc nhà máy nào cũng báo cáo vượt chỉ tiêu sản xuất để nhận thưởng, dù sản phẩm làm ra có thể không dùng được. Chủ nhiệm nông trang nào cũng khai khống sản lượng thu hoạch.
Nguồn số liệu thứ 2 dựa trên ước tính nhu cầu xã hội.
Đối với phân bón hay than đá dùng trong công nghiệp nặng có thể tính toán dựa trên chỉ tiêu thép hay lương thực nhưng những mặt tiêu dùng như giày dép, gần như đoán mò.
Họ nhìn vào số liệu tiêu thụ từ năm trước, cộng với một tỷ lệ tăng trưởng theo nghị quyết của Đảng một cách duy ý chí rồi đưa ra một con số.
Họ biết tổng quỹ lương của cả nước, từ đó “ước tính” sức mua của người dân, rồi đặt ra tổng giá trị hàng hóa phải bằng tổng quỹ lương đó để “cân đối” .
Họ không biết và cũng không có cách nào biết được người dân thực sự muốn kiểu giày gì, màu gì, hay cỡ nào.
Cả một nền kinh tế được xây dựng trên một núi những lời nói dối, và những người ở Moscow, bị cô lập trong Điện Kremlin, lại dùng chính những lời nói dối đó để ra quyết định cho chu kỳ kế hoạch 5 năm tiếp theo.
Vậy tại sao ban đầu nó không sụp đổ ngay? Tại sao Liên Xô vẫn công nghiệp hóa thành công trong những năm 1930-1950?
Bởi vì ban đầu mục tiêu của kế hoạch hoá cực kỳ đơn giản là xây dựng công nghiệp nặng bằng mọi giá.
Một nền kinh tế còn thô sơ, giữ nguyên nền tảng từ thời đại Sa Hoàng không cần đến sự tính toán tinh vi chỉ để quyết định sản xuất thêm thép, thêm gan, thêm điện.
Chỉ cần dồn toàn bộ tài nguyên quốc gia vào đúng một vài ngành ưu tiên là được vì thế cái phương pháp ‘cân đối vật chất’ dù thô kệch vẫn xử lý được bài toán ít biến số như vậy.
Hãy hình dung nó như cái búa tạ , trong một giai đoạn cần đập phá ngôi nhà cũ dột nát để xây dựng lại nền tảng mới là công cụ hiệu quả.
Bằng chứng là những con số tăng trưởng công nghiệp ấn tượng , chỉ có cái SGK lịch sử giấu đi cái giá khổng lồ về nhân mạng và các ngành khác bị hy sinh để nuôi vài đứa con mau ăn chóng lớn.
Khi nền kinh tế trở nên phức tạp hơn do sự tăng trưởng vượt bậc làm chiếc búa tạ ‘kế hoạch hoá’ trở nên vô dụng để lắp ra một chiếc đồng hồ made in USSR.
Số lượng hàng hoá kéo lên hàng trăm ngàn loại từ tivi, tủ lạnh đến hàng chục kiểu quần áo khác nhau, làm cỗ máy tính toán thủ công của Gosplan hoàn toàn sụp đổ.
Họ buộc phải đơn giản hóa bằng cách gộp các mặt hàng lại. Thay vì lên kế hoạch cho từng loại ống thép, họ chỉ lên kế hoạch cho “tấn ống thép”.
Kết quả là các nhà máy sẽ sản xuất loại ống dày và nặng nhất cho dễ đạt chỉ tiêu “tấn”, dẫn đến việc cả nước thừa ống thép dày nhưng lại thiếu kinh niên ống thép mỏng.
Hệ thống hoàn toàn mù tịt trước sự đổi mới.
Làm sao mày có thể lên kế hoạch cho việc sản xuất bóng bán dẫn khi toàn bộ kế hoạch 5 năm đã được viết cho đèn chân không?
Nó không hề có khả năng thích ứng.
Moskva đã cố cứu vãn tình hình bằng cách ‘máy tính hoá’ nền kinh tế vào những năm 1970s, với các dự án như OGAS (Hệ thống quản lý tự động toàn quốc) đã thất bại thảm hại.
Giới quan liêu Nomenklatura nhận ra rằng một hệ thống máy tính minh bạch, hiệu quả sẽ tước đi quyền lực ban phát và cơ hội tham nhũng của họ. Họ đã chống lại nó đến cùng.
Gosplan từ một công cụ công nghiệp hóa tàn bạo đã biến thành một con quái vật quan liêu, tự trói mình trong những quy trình và dữ liệu giả của chính nó.
Nó không thể tính toán được nữa, không phải vì nó dốt đi, mà vì thế giới thực đã trở nên quá phức tạp so với các công cụ từ thời kỳ đồ đá của nó.
Vậy thế là không có kẻ thù nào đủ mạnh để tiêu liên xô trừ chính những công chức lề mề tham nhũng nhưng trung thành với chế độ.
Biến một siêu cường có hàng ngàn đầu đạn hạt nhân nhưng không đảm bảo đủ giày vệ sinh hay đôi giày tử tế.
Chế độ XHCN này không sụp đổ vì nó sản xuất ít, mà vì nó đã biến toàn bộ chuỗi sản xuất và phân phối thành một vở kịch của sự dối trá, lãng phí và bất lực.
Một giám đốc nhà máy được giao chỉ tiêu sản xuất 10,000 cái áo len.
Lương và thưởng của ông ta phụ thuộc vào việc “hoàn thành và vượt mức kế hoạch”.
Ông ta sẽ làm gì?
Ông ta sẽ báo cáo đã sản xuất 10,500 cái, dù thực tế chỉ có 8,000 cái được làm ra, và trong số đó, 2,000 cái bị lỗi không thể mặc được.
Gosplan (Ủy ban Kế hoạch Nhà nước) ở Moscow nhận được con số 10,500 và đánh dấu “thành công”.
Nhưng thực tế chỉ có 6,000 sản phẩm hữu dụng được tạo ra. Nhân con số dối trá này với hàng chục ngàn nhà máy trên toàn liên bang, mày sẽ có một nền kinh tế ma trên giấy tờ, một nền kinh tế “sản xuất rất nhiều” nhưng không hề tồn tại.
Nhưng ngay cả khi một sản phẩm tốt thực sự được làm ra, hành trình của nó đến tay người tiêu dùng là một cơn ác mộng của sự quan liêu và trì trệ.
Đây là lúc vai trò của Gossnab (Ủy ban Nhà nước về Cung ứng Vật tư-Kỹ thuật) xuất hiện.
Nếu Gosplan quyết định cần sản xuất cái gì, thì Gossnab quyết định ai nhận được cái gì.
Nó là một cơ quan quyền lực khổng lồ, một người gác cổng kiểm soát dòng chảy của mọi thứ, từ thép cho nhà máy xe tăng đến vải cho nhà máy may mặc.
Một chuyến tàu chở vải có thể bị kẹt ở một ga xép nào đó hàng tuần lễ vì một tay quan chức Gossnab địa phương quyết định ưu tiên chuyển lô hàng xi măng cho một công trình mà hắn có “lợi ích” trong đó.
Tiếp theo là thảm họa vận tải. Liên Xô là một đất nước rộng lớn với hạ tầng giao thông cực kỳ yếu kém so với quy mô của nó .
Đường bộ ngoài các thành phố lớn thường là đường đất, khiến việc vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là nông sản, trở thành một cuộc đua với thời gian và sự hư hỏng. Hệ thống đường sắt, dù là xương sống, cũng vô cùng thiếu hiệu quả.
Các toa tàu có thể bị bỏ không, nằm chờ ở các ga phụ tới 70% thời gian hoạt động của chúng.
Một lô hàng cà chua từ phía Nam có thể đã thối rữa thành nước trước khi đến được một cửa hàng ở Moscow, nhưng trên giấy tờ, chuyến hàng vẫn được tính là “đã giao”.
Và giờ là những con người vận hành cái cơ chế quan liêu đó.
Khi lô hàng áo len (nếu may mắn còn tồn tại) cuối cùng cũng đến được cửa hàng bách hóa quốc doanh, người quản lý cửa hàng không có bất kỳ động lực nào để bán nó một cách hiệu quả.
Bà ta không được chọn mặt hàng, không được định giá, không được hưởng lợi nhuận.
Công việc của bà ta là đặt hàng lên kệ và đối phó với những hàng người xếp hàng (ochered).
Vì hệ thống chính thức không thể cung cấp những thứ cơ bản, một nền kinh tế thứ hai khổng lồ đã bùng nổ: nền kinh tế chợ đen, hay còn gọi là na levo (“làm bên tay trái”).
Muốn có một phụ tùng xe hơi, một chiếc quần jean, một miếng thịt ngon, hay thậm chí là một cuộn giấy vệ sinh tốt?
Mày phải tìm ra ngoài chợ đen. Sống ở Liên Xô có nghĩa là phạm luật mỗi ngày để tồn tại.
Và để vận hành trong cả hệ thống chính thức lẫn chợ đen, người ta cần một thứ còn quan trọng hơn cả tiền: Blat. Đó là mạng lưới các mối quan hệ, sự ưu ái, những món nợ ân tình**.
Mày quen một tay bán thịt, mày sẽ có thịt.
Con gái của mày quen tay trưởng khoa ở trường đại học, nó sẽ có một suất vào học.
Blat là dầu bôi trơn thực sự cho một cỗ máy đã rệu rã, một hệ thống tham nhũng từ gốc đến ngọn, nơi mọi thứ đều có thể mua được, không phải bằng tiền, mà bằng quan hệ.
Những sản phẩm tốt nhất, đáng khao khát nhất không bao giờ đến được cửa hàng quốc doanh.
Chúng đã bị rút ruột ngay từ trong nhà máy.
Tay giám đốc sẽ tuồn ra một phần sản phẩm tốt nhất cho các đầu nậu.
Tay lái xe tải sẽ “làm rơi” vài thùng hàng trên đường đi.
Tay quản lý kho sẽ khai báo “hư hỏng” để giữ lại hàng tốt.
Tất cả những món hàng đó sẽ xuất hiện trên chợ đen với giá cao gấp nhiều lần, tạo ra một nguồn thu nhập thực sự cho những người trong hệ thống.
Sự khan hiếm ở cửa hàng nhà nước chính là điều kiện để chợ đen phát triển, và chợ đen lại làm cho sự khan hiếm ở cửa hàng nhà nước trở nên trầm trọng hơn
Cái giá của sự “ổn định” này là sự mục ruỗng về tinh thần.
Chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một nghi lễ trống rỗng. Mọi người đều phải học, phải nói, nhưng không một ai tin vào nó nữa, kể cả những người đang giảng dạy nó. Sự hoài nghi trở thành không khí để thở.
Văn hóa tiếu lâm chính trị phát triển cực thịnh, đó là cách duy nhất để người dân giữ cho mình không phát điên. Và khi mọi hy vọng đã chết, họ tìm đến rượu.
Mức tiêu thụ vodka tăng vọt đến mức báo động, nó như một liều thuốc giảm đau cho cả một xã hội đang tuyệt vọng.
Cuộc xâm lược Afghanistan năm 1979 là cơn co giật cuối cùng của con khủng long già nua này.
Một quyết định được đưa ra bởi một nhóm các ông già, mù tịt về thực tế, và nó đã trở thành vết thương chảy máu không ngừng, rút cạn những nguồn lực cuối cùng của một đế chế đã chết từ bên trong.
Khi Brezhnev chết năm 1982, ông ta để lại một Liên Xô trông có vẻ hùng mạnh với kho vũ khí hạt nhân khổng lồ, nhưng thực chất là một cái vỏ rỗng. Gorbachev sau này không phải là người đã giết chết Liên Xô.
Ông ta chỉ là vị bác sĩ đã ký vào giấy chứng tử của một bệnh nhân đã chết não từ lâu.
Sự ổn định của Brezhnev chính là quá trình phân hủy kéo dài 18 năm. Đó không phải là một pháo đài. Đó là một ngôi mộ được trang hoàng lộng lẫy.
Vậy quyền lực toàn trị gãy ở đâu?
Nó gãy ở chính cái khoảng không gian giữa tờ nghị quyết của Bộ Chính trị và cái vòi nước bị rò rỉ trong căn bếp của một gia đình ở Omsk.
Quyền lực của Brezhnev có thể ra lệnh cho cả một quân đoàn xe tăng tiến vào Tiệp Khắc, nhưng nó không thể ra lệnh cho một người thợ sửa ống nước đến đúng giờ.
Nó gãy ở cái ranh giới giữa hệ thống chính thức và thực tế không chính thức.
Nhà nước có thể tuyên bố kiểm soát mọi thứ, nhưng nó không thể kiểm soát được mạng lưới blat chằng chịt, nơi quyết định ai sẽ có thuốc kháng sinh cho con, ai sẽ có một suất trong trường đại học tốt.
Nó không thể dập tắt được nền kinh tế chợ đen, nơi người ta tìm thấy mọi thứ mà các cửa hàng quốc doanh không có.
Người dân Liên Xô sống trong hai thế giới song song: thế giới của những khẩu hiệu và những kế hoạch 5 năm trên giấy, và thế giới thực của sự trao đổi, xoay xở và đút lót để tồn tại.
Hệ thống toàn trị chỉ kiểm soát được cái thế giới trên giấy.
Và cú gãy cuối cùng, cú gãy chí mạng nhất, là ở trong tâm trí người dân.
Họ học được một bài học quan trọng: đừng trông chờ vào nhà nước.
Nhà nước là một thứ xa vời, phiền phức, và thường là trở ngại hơn là giúp đỡ. Sự tồn tại hàng ngày của họ không phải là nhờ ơn Đảng, mà là bất chấp sự tồn tại của Đảng và bộ máy của nó.
Khi một chế độ trở nên không còn liên quan đến cuộc sống và sự sinh tồn của chính người dân mà nó cai trị, thì quyền lực của nó đã chết, dù các cuộc duyệt binh trên Quảng trường Đỏ vẫn diễn ra đều đặn.
25 triệu Đảng viên thấy toà lâu đài cát không thèm góp sức ra cứu , vì phần lớn trong số họ chỉ là những đảng viên trên danh nghĩa.
Họ vào Đảng để có một công việc tốt, để được thăng tiến, để con cái có một tương lai dễ dàng hơn. Đảng viên là một tấm vé sự nghiệp, không phải một lý tưởng. Khi con tàu bắt đầu chìm, họ không cố gắng tát nước. Họ tìm xuồng cứu sinh.
Ngay cả Giới tinh hoa Nomenklatura cũng không cứu nó.
Vào cuối những năm 80, rất nhiều người trong số họ đã nhận ra một sự thật còn hấp dẫn hơn:
Họ có thể có một miếng bánh lớn hơn nhiều trong một thế giới hậu Xô Viết.
Tại sao chỉ làm giám đốc một nhà máy quốc doanh, trong khi mày có thể sở hữu chính cái nhà máy đó thông qua tư nhân hóa?
Họ là những người đầu tiên nhận ra rằng họ có thể biến quyền lực chính trị của mình thành tài sản cá nhân. Họ không cứu con tàu đắm.
Họ là những con chuột đầu tiên rời tàu, và còn mang theo vàng bạc châu báu.
Chế độ không sụp đổ vì một cú đấm từ bên ngoài. Nó đã chết vì hàng triệu vết cắt từ bên trong, từ hàng triệu lần người dân phải tự sửa cái vòi nước, tự tìm một miếng thịt ngoài chợ đen, tự nói dối để sống.
Quyền lực toàn trị đã gãy không phải ở Điện Kremlin, mà ở ngay tại ngưỡng cửa của từng căn hộ tập thể.
Đó là trang sử chưa bao giờ được dạy ở việt nam về sự sụp đổ của liên xô.
Liên Xô không bị lật đổ.
Nó đã bị chính những người mà nó nuôi dưỡng từ bỏ.
Nó không phải là một pháo đài bị kẻ thù bên ngoài đánh chiếm.
Nó là một ngôi đền đã bị bỏ hoang, sụp đổ vì chính các thầy tu và tín đồ của nó đã ngừng tin vào vị thần mà họ phụng thờ và bắt đầu cạy vàng trên các bức tường để mang về nhà.
Vậy, hệ miễn dịch của Việt Nam đang hoạt động thế nào?
Bề ngoài nhìn tường chừng các cơ quan miễn dịch vẫn còn tồn tại đẩy đủ đề feedback những lổ hổng trong chính sách quốc gia.
Có Quốc hội để “phản biện” chính sách.
Có các kỳ họp tiếp xúc cử tri để “lắng nghe” ý kiến.
Có các ban soạn thảo luật luôn “lấy ý kiến nhân dân”.
Nhưng vấn đề không nằm ở chỗ các cơ quan đó có tồn tại hay không.
Vấn đề nằm ở chỗ chúng có thực sự là tế bào miễn dịch, hay chỉ là những cơ quan nội tạng đã bị vô hiệu hóa, chỉ còn chức năng trang trí.
Khi một dự luật gây tranh cãi được đưa ra, ví dụ như cấm xe xăng máy gần đây qua chỉ thị 20, phản ứng từ xã hội bùng lên dữ dội.
Đó chính là tín hiệu đầu tiên của hệ miễn dịch: cơ thể đang báo động có vật thể lạ..
Nhưng phản ứng của hệ thống cầm quyền sau đó mới cho thấy bản chất của nó.
Thay vì coi những phản ứng đó là một kênh phản hồi quý giá để xem lại chính sách, thì nó lại thường được. diễn giải thành “sự phá hoại của các thế lực thù địch”. Hệ thống không tìm cách chữa căn bệnh, nó tìm cách giết chết cái tế bào đang báo động.
Đây chính là điểm khác biệt cốt tử.
Một hệ thống khỏe mạnh sẽ hỏi:
“Tại sao người dân lại phản đối dữ dội như vậy? Lỗ hổng trong chính sách của chúng ta nằm ở đâu?”.
Còn một hệ thống có hệ miễn dịch suy yếu sẽ hỏi:
“Thằng nào đứng đằng sau giật dây vụ này?”
Winston Churchill nói rằng:
Many forms of Government have been tried, and will be tried in this world of sin and woe. No one pretends that democracy is perfect or all-wise. Indeed it has been said that democracy is the worst form of Government except for all those other forms that have been tried from time to time.…’
Tức là mặc dù dân chủ thực sự tồi tệ khi đưa ra chính sách toàn cãi lộn vô nghĩa, tranh giành giữa các tiếng nói “tự do” lắm khi bị số đông vùi dập một cách ngu dốt mà bỏ qua lợi ích to lớn lâu dài như vụ Brexit nhưng ít ra nó vẫn còn cơ chế miễn dịch, tự sửa chữa chính nó mỗi khi mắc bệnh.
Cái “lắng nghe phản hồi” từ hệ miễn dịch kia đã bị biến thành một nghi lễ, một sân khấu diễn kịch.
Người ta tổ chức các buổi họp lấy ý kiến, nhưng chỉ những ý kiến “mang tính xây dựng” – tức là không đi ngược lại định hướng đã có sẵn – mới được ghi nhận.
Những ý kiến trái chiều, dù sâu sắc đến đâu, cũng thường bị bỏ qua hoặc dán nhãn là “tiêu cực”, “thiếu hiểu biết”. Nó giống như một bác sĩ chỉ muốn nghe bệnh nhân nói rằng mình khỏe mạnh.
Mặc dù đã có phần nào kiểm soát được các mxh lớn như Facebook, Tiktok dẫn dụ người dân nghe theo cái loa tuyên truyền nhưng không dám bịt nó hoàn toàn vì làm vậy chẳng nào tự biến mình mù điếc chả biết chuyện gì đang diễn ra và cũng không dám để tự do quá đà để trở thành công cụ để lật đổ chính mình.
Kết quả là sinh ra một chính sách hai mặt, vừa “đánh” vừa “xoa”.
Một mặt, họ ban hành các luật lệ như Luật An ninh mạng để siết chặt kiểm soát, bắt bớ những tiếng nói đối lập mạnh mẽ nhất.
Mặt khác, họ vẫn phải theo dõi và phản ứng với những bức xúc lớn của xã hội để tránh cho “nồi áp suất” phát nổ.
Họ đang cố gắng đi trên một sợi dây cực kỳ mỏng: làm sao để lọc được “phản hồi” mà không nhận phải “phản đối”.
Và khi cuộc đốt lò tập trung quyền lực đẩy mạnh về tay trung ương khiến cỗ máy ngày càng mù dở chỉ vì văn hoá ‘không làm sai’.
Một giám đốc sở sẽ không dám phê duyệt một dự án đổi mới sáng tạo, dù biết nó tốt, vì sợ rằng nếu thất bại, ông ta sẽ bị quy trách nhiệm và trở thành củi cho cái lò đó.
Cả bộ máy sẽ chỉ vận hành theo chỉ thị, và những chỉ thị đó lại được đưa ra bởi một người đứng đầu đang ngày càng bị cô lập trong cái bong bóng thông tin do chính nỗi sợ hãi mà ông ta tạo ra.
Nhìn từ Liên Xô dưới bàn tay Brezhnev đến VN thời kỳ công an trị thấy 1 điểm giống hệt nhau: một cơ thể đang phải vật lộn với một căn bệnh tự miễn nghiêm trọng.
Hệ miễn dịch của nó đôi khi vẫn hoạt động, nó vẫn phản ứng với những cơn sốt cao, nhưng đồng thời nó cũng đang tấn công chính những tế bào khỏe mạnh đang cố gắng cảnh báo nó về những khối u đang lớn dần bên trong.
Nó chưa chết, nhưng nó đang tự làm mình yếu đi mỗi ngày. Nó đang đứng trước lựa chọn mà mọi chế độ đều phải đối mặt: học cách sống chung với những cơn đau của sự thật, hay chọn cái chết êm ái trong sự thoải mái của những lời dối trá.
Vậy có lối thoát không?
Có nhưng là để kéo dài cơn hấp hối lâu hơn 20-30 năm tiếp và hậu quả thế nào thì tao đéo biết.
Cái khung lý luận ‘kỷ nguyên vươn mình’ hiện tại chẳng qua là để hợp thức hoá việc từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lenin sang chủ nghĩa dân tộc quốc gia.
Họ chỉ đang cố khiến giới trẻ và tầng lớp lao động tin vào một câu chuyện bản sắc dân tộc, thống nhất niềm tin bằng trò tự hào được bơm thổi bằng hoà bình, độc lập.
Nhưng cái lý luận đấy không đủ để vá được cái lỗ hổng ngày một phình to ra.
Hội đồng Lý luận Trung ương , Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh không có 1 ai đủ để sánh ngang với Vương Hỗ Ninh nếu không muốn nói là tệ hại khi so sánh với lý thuyết Tân Chuyên Chế của họ Vương có thể:
- Chứa mâu thuẫn.
- Bẻ luân lý.
- Hợp thức hoá sự bóp nghẹt tự do mà dân vẫn ngoan.
Hà Nội tung ra 1 phiên bản tệ hại hơn ‘tân chuyên chế’ chỉ là khẩu hiệu sáo rỗng, không dựng được hệ tư tưởng đàn hồi như Vương.
Khi khủng hoảng xảy ra (ví dụ: thất nghiệp, bất công, kinh tế suy thoái…), bằng cách nào chính quyền còn giữ được chính danh (quyền kể chuyện)?
Nếu khi gặp khủng hoảng, hệ thống chỉ còn cách… bóp mạnh tay thô bạo, dễ sụp nhanh.
Họ thực sự nghĩ rằng dùng mấy cái liều thuốc an thần như các trò giải trí rẻ tiền như drama showbiz (Hồng Tỷ hay J97 gần đây) sẽ có tác dụng đủ để ngăn cái nồi áp suất kinh tế-xã hội ngày một sôi lên đủ để cháy căn nhà rơm thành tro bụi sao?
Một thằng công nhân lương tháng 10 triệu đi làm tăng ca cả tháng chỉ về căn nhà trọ ộp ẹt gía 3tr/tháng, húp mì thay cơm, từ bỏ giấc mơ mua nhà, cưới vợ sinh con thì nó lấy đâu ra liều thuốc để cười nữa?
Làm sao nó chấp nhận được sẽ phải bỏ thêm một món tiền vay nợ mua xe điện 15-30 triệu đồng với lãi suất 3-5% ăn mòn từng đồng cắc bạc ít ỏi nó dành dụm được mỗi tháng?
Nếu một nhà lãnh đạo thực dụng như hình mẫu Quân vương của Machiavelli đang ngồi ở cái ghế quyền lực tối cao ở Hà Nội thì điều đầu tiên ông ta cần nhìn chính là điểm mù của mình, đéo tin vào đám nịnh thần cấp dưới mà phải kiếm chính người sẵn sàng chết để nói thật như cách Võ Văn Kiệt và nhóm thứ sáu của ông.
Tao sẽ đưa ra một chiếc lược gọi là “Van An Toàn Có Kiểm Soát” hay “Nhà hát của sự Phản biện”.
Không cần một cải cách thật sự , vì bắt chuột sẽ vỡ bình, sụp luôn cái cấu trúc mong manh hiện nai.
Ông ta chỉ cần diễn một vở kịch được dàn dựng một cách tinh vi, nó buộc phải có một sân khấu chính cho một số tiếng nói trí thức độc lập được cất lên , không cần nói to chỉ cần đến đúng tai người cần nghe.
Họ sẽ được phép phân tích, chỉ trích, phản biện các chính sách – trong một chừng mực nhất định.
Quan trọng hơn, hệ thống cầm quyền phải diễn vai lắng nghe. Phải có những hình ảnh các nhà lãnh đạo mời các chuyên gia này đến tham vấn, phải có những bài báo ghi nhận ý kiến của họ.
Màn kịch này sẽ không thay đổi chính sách hay đụng chạm lợi ích nhóm cầm quyền mà là để xả hơi cho nồi áp suất.
Nó tạo ra một ảo giác rằng “hệ thống vẫn còn khả năng tự sửa lỗi”, rằng “vẫn có người đang nói thay cho nỗi lòng của chúng ta”, và “lãnh đạo vẫn đang lắng nghe”.
Nó biến sự giận dữ tiềm tàng thành một sự chờ đợi trong hy vọng.
Đây là một thủ thuật tâm lý chính trị bậc thầy, tốt hơn vạn lần việc chỉ có những tiếng vỗ tay và những lời tung hô đơn điệu.
Và khi đó dù là diễn kịch ít ra nó tạo 1 hình ảnh đẹp đẽ trong mắt cộng đồng quốc tế, bơm ra cái bánh vẽ đang có sự chuyển biến ‘tích cực’ tại VN dù bản chất không đổi.
Chiến lược này hiệu quả không dựa trên bất kỳ lý thuyết suông nào chỉ là sự thực dụng mà chính tao quan sát từ nỗi sợ tâm lý đám đông Việt Nam là: Sợ hỗn loạn còn hơn sự căm ghét áp bức.
Đại đa số dân bị trị , thích nghe câu chuyện chính thống hơn dù cho họ có yêu hay ghét chế độ đều không muốn một sự sụp đổ đột ngột diễn ra.
Đảng đã gieo vào đầu họ một niềm tin sắt đá rằng thà sống trong một trật tự mà họ không thích nhưng có thể dự đoán được, còn hơn là lao vào một sự hỗn loạn không thể lường trước.
Tao càng không tin vào cái bánh vẽ dân chủ của bọn Pro-Phương Tây ấy sẽ thực sự thành công vì nó đòi một sự hội tụ của chuỗi điều kiện hoàn hảo như mơ:
- Một tầng lớp trung lưu đủ lớn, những người muốn thay đổi nhưng sợ hỗn loạn.
- Một sự rạn nứt trong chính nội bộ chế độ, nơi một phe cải cách thắng thế hoặc một nhà lãnh đạo quyết định thay đổi để tự cứu mình.
- Quân đội chấp nhận đứng trung lập hoặc bị vô hiệu hóa, không tuân lệnh đàn áp dân chúng.
- Sự tồn tại của một xã hội dân sự có tổ chức để dẫn dắt và duy trì áp lực.
- Một yếu tố bên ngoài đủ mạnh để gây áp lực hoặc tạo sức hút (kinh tế hoặc chính trị).
Trong 5 cái đó, ở VN đéo có cái nào.
Nếu chuyển giao quyền lực độc tài sang dân chủ một cách đột ngột thì chả khác đéo gì chuyển từ 1 thằng độc tài công khai sang 1 đám giật dây đứa dân tuý lên nắm quyền và tạo sơ hở cho kẻ như Putin lợi dụng tình hình hỗn loạn lên dẹp loạn lấy lại trật tự rồi ngồi tiếp trên ngai vàng.
“Nhà hát của sự Phản biện” sẽ trấn an được nỗi sợ này, nó cho người ta cảm giác rằng hệ thống đang tự điều chỉnh một cách từ từ, tránh được một cú sụp đổ thảm khốc.
Kể cả có xảy ra cách mạng/đảo chính/thay đổi chế độ gì đó thì bản chất vẫn không đổi vì hai sự thật bất biến sau đây:
Sự thật thứ nhất: Cỗ máy quan liêu bất khả di dời.
“Công an, quân đội, bác sĩ, giáo viên, công chức” – họ không phải là những cá nhân có thể bị thay thế.
Họ là chính hệ thống.
Hàng triệu con người này, với những quy trình, lợi ích và văn hóa đã ăn sâu hàng chục năm, tạo thành một lực cản khổng lồ.
Bất kỳ nhà lãnh đạo mới nào, dù có ý định cải cách trong sáng nhất, cũng sẽ bị cỗ máy này nghiền nát hoặc buộc phải thỏa hiệp. Không thể có một “cuộc cách mạng sạch sẽ” khi mày phải dùng lại toàn bộ những bánh răng cũ kỹ của ngày hôm qua.
Sự thật thứ hai: Mạng nhện của các nhóm lợi ích. Không có một “lãnh tụ mới” nào hoàn toàn trong sạch. Quyền lực không tồn tại trong chân không. Để leo lên đỉnh, bất kỳ ai cũng phải dựa vào sự ủng hộ của các phe nhóm, các mạng lưới kinh tế-chính trị đang tồn tại. Một nhà lãnh đạo mới không phải là sự khởi đầu mới, mà thường chỉ là sự tái sắp xếp quyền lực giữa các nhóm lợi ích cũ và mới.
Chế độ cầm quyền Hà Nội nếu thực sự đi theo con đường này sẽ sống lâu thêm 20-30 năm, thì cần dám nhìn thẳng vào câu hỏi:
1.Liệu một cơ thể đã quen với việc coi hệ miễn dịch là kẻ thù có đủ khôn ngoan để tự mình nuôi cấy một vài tế bào miễn dịch giả trong phòng thí nghiệm hay không?
2.Hay là nỗi sợ mất kiểm soát cố hữu sẽ khiến nó tiếp tục siết chặt cái nồi áp suất cho đến ngày nó tự phát nổ?
Mọi thứ đều bắt đầu và kết thúc bằng một câu chuyện.
Kẻ nào nắm được quyền kể chuyện, kẻ đó nắm được quyền lực.
Và một chế độ chỉ thực sự tàn lụi khi câu chuyện của nó trở nên lố bịch đến mức không một “tu sĩ” nào, dù xảo quyệt đến đâu, có thể vá víu được nữa, và khi những người công nhân đã quá mệt mỏi với mọi câu chuyện và chỉ còn tin vào cái dạ dày đang sôi của chính mình.
Leave a comment