Bàn về tự do

Published by

on

Bàn về tự doTLDR: Con người nếu chỉ tuân theo bản năng thì sẽ mãi là nô lệ. Còn nếu tuân theo luật pháp do mình đặt ra thì họ sẽ được tự do - Jean Jacques Rousseau.

  1. Tự do là làm mọi thứ mình muốn?

152 năm trước khi Cuộc Duy tân Minh Trị diễn ra, người Nhật Bản khi nói về tự do họ sẽ nghĩ rằng đó là “Tự do là tôi làm gì mặc kệ tôi, không liên quan đến anh”, Fukuzawa Yukichi không đồng tình, đã nói trong Khuyến học (1872-1876) như sau:

img

 > “Tự do không phải là chỉ biết có tôi, cho riêng tôi

Biết đúng vị trí, chỗ đứng của mình là rất quan trọng. Kể từ khi sinh ra, con người không phải chịu sự can thiệp của bất cứ một ai. Nam cũng như nữ đều có quyền tự do sinh sống. Và đúng là con người có quyền tự do, nhưng lúc nào cũng khăng khăng đòi phải được làm theo ý muốn của riêng mình mà không biết rõ vị trí của mình thì sẽ trở nên chỉ biết có mình, cho riêng mình. Như thế là tự mình làm hỏng mình.

Dựa trên đạo lý mà Trời đã định, vị trí của mỗi người là ở chỗ: biết trọng tình người, không làm phiền hay cản trở người khác, biết bảo vệ quyền tự do bản thân.

 >Tự do bản thân không có nghĩa là muốn làm gì thì làm, không có nghĩa là làm phiền hoặc cản trở người khác. Ví dụ như có người nói: “Tiền tôi, thích uống rượu tôi uống, thích mua ‘hoa’ tôi mua. Đó là quyền tự do của tôi, chứ động chạm gì tới ai.”

Suy nghĩ như vậy là sai. Ham mê tửu sắc làm ảnh hưởng tới người khác, lại lôi kéo bạn bè, làm hại nền giáo dục. Cứ cho là tiền tôi chi tiêu, nhưng không vì thế mà bỏ qua những hành vi tội lỗi cho xã hội.

Quan điểm của Fukuzawa Yukichi là kết quả của việc tìm tòi học của Triết học khai sáng như Thomas Hobbes, John Locke,Montesquieu,Jean Jacques Rousseau và nổi bật nhất chính là Jame Stuart Mill trong tuyệt tác On Liberty (Bàn về tự do).

 II – Tự do là gì?

img

Mill đã định nghĩa rõ ràng về Tự do như sau:

Individual freedoms must be protected from political, economic, and social tyranny. He believed that the complete autonomy of an individual, so long as their thoughts or actions do not harm others, must be protected. (On Liberty – (Study.com).

(Tự do cá nhân phải được bảo vệ khỏi các yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội toàn trị. Ông tin rằng mỗi cá nhân có quyền tự chủ hoàn toàn về chính họ miễn là suy nghĩ và hành động không gây hại đến các cá nhân khác, bắt buộc phải được bảo vệ.)

Tự do mà Mill nhắc đến chính là tự do xã hội, trong đó mỗi cá nhân có quyền theo đuổi những gì họ cho là phù hợp với những giá trị đạo đức, lối sống và hạnh phúc cá nhân miễn là không gây hại cho người khác. Có 3 quyền tự do cơ bản:

  1. Tự do tư tưởng và suy nghĩ: tự do tuyệt đối về cảm nghĩ và tự do thể hiện chúng bằng lời nói hay văn bản
  2. Tự do theo đuổi thị hiếu và mưu cầu riêng: được sống theo ý mình , miễn là lối sống đó không gây hại cho người khác trong xã hội
  3. Tự do tập hợp các cá nhân: quyền đoàn kết với người khác không vì mục đích gây hại, miễn là các thành viên không bị ép buộc

Tự do Dân sự hay là Tự do Xã hội: tức là bản chất và các giới hạn của quyền lực mà xã hội có thể thực thi một cách chính đáng đối với cá nhân.

Ví dụ như tôi muốn làm giàu thì tôi có thể đi vay ngân hàng, mở doanh nghiệp, thuê người khác trả lương xứng đáng với công sức của họ thì dĩ nhiên phần lợi nhuận thuộc về tôi là hợp lý. Nhưng nếu tôi buôn bán gian lận, lừa dối do khách hàng lẫn đối tác, bóc lột thành quả lao động của nhân viên cấp dưới thì lúc đó tôi bị mất quyền tự do, phải chịu sự phán xét và hình phạt từ pháp luật.

Nhưng nếu ngược lại xã hội áp đặt lên những gì cho là tốt cho cá nhân thì sao? Nếu cha mẹ bắt buộc con cái vào trường đại học họ muốn, cưới người họ cho là đúng, phải sinh con trai để làm tròn nghĩa vụ hiếu đạo. Tôi không cho rằng đó là tự do, lợi ích xã hội luôn luôn đối kháng mãnh liệt với lợi ích cá nhân. Dù cho có đúng là tốt cho chính mình nhưng nếu chính bản thân anh ta/cô ta không có ý chí cá nhân, không thể đưa ra quyết định (dù tốt lẫn xấu) thì chỉ là tình trạng nô lệ và lệ thuộc mà không hề độc lập gì cả. Dù có là quyết định sai lầm hay đúng đắn đi chăng nữa thì chính cá nhân đó mới là người chịu trách nhiệm cho bản thân họ, xã hội có chăng chỉ là vài lời động viên

Nếu những người lớn bị trừng phạt vì đã không chăm sóc bản thân đàng hoàng, thì tôi thấy tốt hơn là nên làm việc đó vì bản thân họ, hơn là lấy cớ ngăn chặn họ làm hỏng khả năng đền đáp lại lợi ích cho xã hội, cái lợi ích mà xã hội không dám chắc mình có quyền đòi hỏi. Nhưng tôi cũng không thể đồng ý với quan điểm tựa hồ như là xã hội không có phương tiện gì để đưa các thành viên yếu kém hơn tiến lên chuẩn mực thông thường của hành vi có lý trí, ngoài việc ngồi chờ xem khi nào họ làm điều gì phi lý thì trừng phạt họ bằng pháp luật hay đạo đức.

 Hoặc:

Nhưng không một người nào hay nhóm người nào được phép nói với một người trưởng thành khác, rằng vì lợi ích của chính anh ta mà anh ta không được làm cái anh ta lựa chọn cho đời mình. Anh ta là người quan tâm nhất cho an sinh của bản thân mình: ngoại trừ trường hợp có sự gắn bó riêng tư mạnh mẽ, mối quan tâm của bất cứ ai khác đều không đáng gì so với mối quan tâm của anh ta đối với bản thân mình.

Mối quan tâm của xã hội đối với cá nhân anh ta (ngoại trừ về hành vi của anh ta đối với người khác) chỉ là rất nhỏ và lại là gián tiếp nữa; trong khi đó thì một người bình thường nhất, đàn ông hay đàn bà, cũng có cách để nhận biết rõ hơn rất nhiều so với bất cứ ai khác về cảm xúc và hoàn cảnh riêng của bản thân mình.

III – Trạng thái tự nhiên

Khi xem xét về tính gây hại cho những người khác, trước hết ta cần phải đặt câu hỏi rằng: nếu con người được tự do hoàn toàn, không có gì ngăn trở, không có quan tòa hay nhà tù nào xiềng xích thì sẽ sao? Trong triết học nó được gọi là Trạng thái tự nhiên

img

Thomas Hobbes quan niệm rằng con người cần được chính quyền cai trị để thoát khỏi trạng thái tự nhiên là một thế giới “cá lớn nuốt cá bé” khủng khiếp. Hobbes miêu tả trong tác phẩm Leviathan rằng con người như những nhân tố có lý trí tìm cách tối đa hóa quyền lực và hành động vì lợi ích cá nhân, bởi nếu không làm vậy họ không thể tự tồn tại.

Con người không được quản lý sẽ khủng bố lẫn nhau trong trạng thái tự nhiên

 ⇒ Chính là tình trạng khi các cá nhân sẽ làm tất cả để thỏa mãn nhu cầu tự tư tự lợi của họ

⇒ Trong trạng thái tự nhiên, tình trạng của con người là tình tình trạng chiến tranh, khi tất cả chống lại nhau

Để tránh rơi vào trạng tthái tự nhiên, con người phải kí kết khế ước xã hội, quy phục trước thẩm quyền và sự bảo vệ của người cai trị tối cao

⇒ Người cai trị tối cao có quyền lực không thể chia sẻ và không bị giới hạn để ngăn chặn xung đột phe phái và hỗn loạn

⇒ Nếu người cai trị tối cao thất bại trong nhiệm vụ của mình, khế ước xã hội sẽ bị phá vỡ và cá nhân có thể tự do hành động, dẫn đến việc xã hội quay lại trạng thái tự nhiên.

Trạng thái tự nhiên vốn “cô độc, nghèo khổ, bẩn thỉu, tàn bạo và ngắn ngủi” đến nỗi tự do chỉ là một mối bận tâm thứ yếu, một điều xa xỉ mà họ không nên mơ tới.

Không chỉ trên những bộ phim điện ảnh mà ngay tại những vùng chiến tranh, bất ổn, bạo động mà ta cũng dễ dàng thấy được khi con người không bị kiểm soát, tự do làm bất cứ thứ gì để sinh tồn thì ác quỷ cũng phải quỳ xuống bái phục về mức độ tàn độc và nhẫn tâm.

IV – Tự do trong khuôn khổ

img

Chính vì thế tự do xã hội về bản chất chính là tự do trong khuôn khổ của khế ước xã hội mà tất cả chúng ta đều chấp nhận nó. Ngoại trừ mối quan hệ ruột thịt như cha mẹ con cái thì tất cả các mối quan hệ khác đều phải dựa trên sự tuân thủ chung về khế ước xã hội, cao nhất là hiến pháp và pháp luật có tính ràng buộc tuyệt đối và sự ràng buộc trong khuôn khổ của đạo đức, lương tâm.     

Quan niệm của John Locke cho rằng con người là những nhân tố có lý trí, độc lập và có các quyền tự nhiên (không ai có thể tước đạt). Họ gia nhập xã hội chính trị để được bảo vệ bởi các quy tắc pháp trị. Mục đích của pháp luật chính là để giữ gìn và khuếch trương tự do.

![img](t4912nio3zjd1 “Là một người chống lại chế độ chuyên chế.Locke lúc còn là một đứa trẻ đã chứng kiến vua Charles I bị hành hình năm 1649 vì là \”một kẻ bạo chúa, kẻ sát nhân , kẻ thù của nhân dân và lợi ích đất nước\””)

“Tự do không phải, như chúng ta được dạy, là quyền tự do cá nhân để mọi người có thể làm những gì mình muốn (bởi ai có thể được tự do khi kẻ khác có thể thống trị minh để đùa vui), mà là quyền được tự do định đoạt bán thán – từ con người, hành động đến tài sản – theo cách mình muốn trong khuôn khổ cho phép của luật pháp”.

Nói cách khác, luật pháp không chỉ có thể giữ gìn, mà còn tạo điều kiện để quyền tự do được thực thi. Nếu không có pháp luật, tự do của chúng ta sẽ bị một trạng thái tự nhiên, vô chính phú và bất ổn giới hạn, và trong thực tế tự do của chúng ta sẽ không tồn tại.

img

Theo Kant, nhiệm vụ quan trọng của nhà nước là đảm bảo quyền tự do của người dân trong khuôn khổ luật pháp “để ai cũng được tự do mưu cầu hạnh phúc theo cách của họ, miễn là họ không xâm phạm tự do và  quyền hợp pháp của những người khác”.

Kant xem xét điều gì sẽ xảy ra khi con người sống “trong trạng thái tự nhiên,” tự do làm những gì mình muốn. Ông cho rằng vấn đề chính ở đây là xung đột về lợi ích.

Ví dụ, bạn làm gì nếu hàng xóm của bạn dọn đến ở nhà bạn và đuổi bạn ra, và không có luật lệ nào để ngăn cản hắn hay bồi thường cho bạn? Kant cho rằng trạng thái tự nhiên là “công thức” tạo nên một xã hội hỗn loạn, nơi mà các tranh chấp không được giải quyết một cách hòa bình. Vì lý do này con người tự nguyện “từ bỏ trạng thái tự nhiên|…], chấp nhận chịu sự câu thúc của xã hội và luật pháp”.

V – Nguyên tắc gây hại (Harmful Principle)

Quyền của của người này đơn thuần nằm ở chỗ giới hạn tự do của người khác – Immanuel Kant

Sau khi chấp nhận rằng, tự do trong khuôn khổ của Pháp luật là đúng thì tiếp theo ta cần xem xét: thế nào là quyền tự do gây hại đến lợi ích của người khác? James Stuart Mill đã nêu cho ta một phương pháp để phân biệt:

img

Hành vi của một cá nhân có thể gây tổn thương cho những người khác hay thiếu cân nhắc đối với hạnh phúc của họ, nhưng chưa đến mức vi phạm pháp quyền đầy đủ của họ.Khi đó người vi phạm bị trừng phạt đúng lẽ bởi dư luận, tuy không dùng đến luật pháp. Chừng nào mà cư xử nào đó của một cá nhân gây phương hại đến quyền lợi của những người khác, xã hội có quyền xét xử sự việc đó, và vấn đề sự can thiệp ấy có thúc đẩy hạnh phúc chung hay không còn mở ngỏ cho thảo luận. Thế nhưng không có chỗ cho việc đưa ra vấn đề như thế, khi hành vi cư xử của một cá nhân không ảnh hưởng đến quyền lợi của ai khác ngoài bản thân anh ta, hoặc chỉ ảnh hưởng đến người khác nếu họ thích (mọi người có liên can đều đủ tuổi trưởng thành và có đủ trí sáng suốt bình thường). Trong mọi trường hợp như thế, xã hội và pháp luật phải đảm bảo tự do tuyệt đối cho cá nhân thực hiện hành vi và tự gánh chịu các hậu quả.

Khi nào một người sử dụng quyền tự do gây hại đến người khác?

Mill cho rằng bất kỳ một ý tưởng nào trên đời cũng phải được quyền biểu đạt tồn tại, cho dù nó có vô đạo đức (immoral) dưới mắt tất cả những người khác.

img

Theo ông**, “nếu toàn bộ nhân loại ngoại trừ một người có cùng một quan điểm, và chỉ người đó có quan điểm trái ngược, thì việc nhân loại buộc người đó phải ngậm miệng cũng vô lý ngang với trường hợp kẻ đó có quyền lực và muốn bịt miệng tất cả nhân loại.”**

Tự do biểu đạt, Mill tuyên bố, là điều kiện để đẩy con người đến giới hạn của tư duy logic, thay vì bị trói buộc bởi rào cản xã hội. Nó cần thiết để hình thành nên phẩm giá của con người. Không có nó, con người sẽ sống trong sự ôn hòa giả tạo, dìm toàn bộ nhân loại chung trong một cái lồng hèn nhát (diễn dịch từ ý “sacrifices the entire moral courage of the human mind”).

Bảo vệ quyết liệt tự do ngôn luận là vậy, Mill vẫn đặt ra giới hạn cho nó. Theo ông, trường hợp duy nhất tự do của cá nhân có thể được kiểm soát là để tránh nguy hại (harm) đến người khác.

Nhằm minh họa cho nguyên tắc này, Mill đưa ra ví dụ về nhà buôn bắp (corn dealer). Để tiện hình dung, ta có thể thay đổi ví dụ đó thành trường hợp một nhà thuốc buôn khẩu trang bị cáo buộc nâng giá vô tội vạ.

img

Theo nguyên tắc của Mill, nếu một người đăng bài viết nêu quan điểm buộc tội nhà thuốc ăn lời trên tính mạng của đồng bào, đó là quyền tự do biểu đạt của họ và chấp nhận được.

Nhưng nếu một đám đông giận dữ đang bao vây nhà thuốc đòi lôi cổ chủ tiệm ra hỏi tội, không ai được phép đứng trước đám đông đó nêu quan điểm cáo buộc như trên. Sự khác biệt là trong trường hợp sau, quyền tự do biểu đạt này có thể kích động đám đông dùng bạo lực, trực tiếp gây hại đến quyền lợi (ở đây có thể là tính mạng) của người chủ nhà thuốc.

Nguyên tắc Gây hại được xem là giới hạn thấp nhất để bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Theo đó, người ta phải chứng minh được sự thiệt hại (trực tiếp và rõ ràng) từ một hành vi biểu đạt của ai đó để có thể ra luật chế tài hoặc thưa kiện người đó ra tòa.

Ngay cả trong ví dụ của Mill, ông cũng không đề cập đến việc quan điểm buộc tội (nhà buôn) có đúng sự thật hay không mà chỉ quan tâm đến việc nó có gây hại trực tiếp và ngay tức thời hay không.

Ta có thể ngầm hiểu rằng nếu quan điểm trên sai sự thật, nhà buôn có quyền thưa kiện người đưa ra phát ngôn sau đó.

Nguyên tắc Gây hại là cơ sở cho các vụ kiện phỉ báng, tống tiền, quảng cáo sai sự thật, quảng cáo sản phẩm có hại cho trẻ em…

Xét về mặt cấu thành, tại các quốc gia thông luật, một hành vi chỉ có thể được xem là mang tính xúc phạm, phỉ báng hay bôi nhọ nếu chúng thỏa mãn tất cả các yếu tố sau:

(1) Phát ngôn không có căn cứ, sai sự thật; hoặc không có giá trị thực chứng. Điều này là bởi văn hóa pháp lý thông luật cho rằng một phát ngôn có tính đúng không thể gây ra thiệt hại, và vì vậy pháp luật không thể can thiệp chỉ vì đối tượng nghe không thích chúng.

(2) Người nói không có quyền miễn trừ, mà thuật ngữ chính xác là “đặc quyền tuyệt đối” (absolute privilege). Nguyên tắc này nhắm đến các phát ngôn, biểu đạt được ghi nhận trong những môi trường mà người phát ngôn được quyền tự do tuyệt đối để nói lên mọi thông tin mà họ có. Một cuộc điều trần trước quốc hội, một phiên tòa, một cuộc tranh luận bầu cử công khai hay các thảo luận liên quan đến một vấn đề công cộng … đều là những môi trường mà người nói sở hữu đặc quyền tuyệt đối.

(3) Phát ngôn không nằm trong bối cảnh “bình luận công bằng” (fair comment). Nguyên tắc bình luận công bằng được đưa ra thường để bảo vệ các nhà báo, phát thanh viên, các nhà nghiên cứu, cân nhắc chức năng và nhiệm vụ công việc của họ khi phải nói về một chính trị gia, một nhân vật của công chúng hay một vấn đề khoa học – chính trị – xã hội…

(4) Người nói không có “chủ đích ác ý” (actual malice). Đây là một nguyên tắc đặc biệt nhằm kiểm soát việc các cá nhân nắm giữ quyền lực nhà nước có thể khởi kiện báo chí, công dân vì xúc phạm mình. Trong án lệ New York Times Co. v. Sullivan mà Luật Khoa đã nhiều lần nhắc đến, một hành vi ngôn luận (chưa bàn đến đúng hay sai) chỉ có thể bị xem là vi phạm pháp luật chỉ khi nó mang tính chất “ác ý có chủ đích” (actual malice). Đây là một điều kiện cực kỳ khó khăn để chứng minh trước tòa, bởi bên đăng tin có thể lập luận rằng họ đã dùng mọi biện pháp để kiểm chứng thông tin và công chúng cần biết thông tin càng sớm càng tốt.

Tức là một người có quyền phát biểu ý kiến, viết sách, thu âm những suy nghĩ của cá nhân họ mà không bị ngăn cấm. Nhưng giới hạn nằm ở đâu? Chính là phỉ báng, tung tin giả về thiên tai dịch bệnh, xúc phạm danh dự cá nhân. Như vậy Quyền tự do ngôn luận (Free Speech) có mục đích là nhằm đến sự thật và không còn gì khác ngoài sự thật.

Quyền tự do cá nhân vì vậy phải được giới hạn, không ai vì tự do mà được phép làm phiền người khác -John Stuart Mill.

Những phát ngôn như thuyết âm mưu về Vaccine COVID-19 không chỉ làm chậm tỷ lệ tiêm chủng đại trà mà còn gián tiếp gây thêm cái chết cho người khác thì phải bị cấm hoàn toàn,

Những phát ngôn ác ý nhắm vào những đặc điểm như chủng tộc, tôn giáo, giới tính, người khiếm khuyết gây tổn hại đến những người thuộc tầng lớp trên phải bị cấm tuyệt đối.

Những thành phần như trên là cố tình lạm dụng Free Speech thì xứng bị tước đoạt quyền tự do để bảo quyền tự do những người khác.

Leave a comment

Previous Post
Next Post
Design a site like this with WordPress.com
Get started