Bàn về tính Chính danh
I. Đặt vấn đề
Khổng Tử từng nói rằng:
Danh bất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất thành, sự bất thành tắc lễ nhạc bất hưng, lễ nhạc bất hưng tắc hình phạt bất trúng, hình phạt bất trúng, tắc dân vô sở thố thủ túc. Cố quân tử danh chi tất khả ngôn dã; ngôn chi tất khả hành dã. Quân tử ư kì ngôn, vô sở cẩu nhi dĩ hĩ.” (Tử Lộ XII.3)
Dịch nghĩa:
Nếu danh (hiệu) không chính (xác) thì lời nói không thuận lí (vì danh hiệu không hợp thực tế); lời nói không thuận thì sự việc không thành; sự việc không thành thì lễ nhạc, chế độ không kiến lập được; lễ nhạc, chế độ không kiến lập được thì hình phạt không trúng; hình phạt không trúng thì dân đâu biết đặt tay chân vào đâu (không biết làm thế nào cho phải).
Ý của Khổng Tử nói ở đây là gì?
Tức là nếu anh không ở vị trí hợp lý ( ví dụ như làm cha dạy con) thì mọi lời nói của anh đều là vô nghĩa. Vì lời nói vô nghĩa dẫn đến không thuyết phục được người nghe, mọi chuyện sắp đặt được sẽ hoàn toàn thất bại. Vì không thuyết phục được nên mọi hình phạt đưa ra cũng hoàn toàn sai, dân không có chỗ dựa.
Từ thuyết chính danh này , Khổng khâu đề ra tư tưởng “Vua phải ra vua, Cha phải ra cha, con phải ra con” muốn mọi người đều phải tự biết vị trí của mình mà cư xử cho hợp lễ nghĩa. Thực tế thì nó dựa trên sự tự nguyện , ngay tại chính thời đại của ông cũng không thực hiện được, cho đến mãi bây giờ cũng vậy. Con người phải ép vào khuôn khổ pháp luật mới mong rằng học có thể hành động đúng phép tắc.
Quay lại thời hiện đại. TBT Tô Lâm vừa có một phát biểu ở Mỹ như sau:
Rõ ràng đây cũng không phải là chuyện gì quá mới lạ. Các tài liệu đã được bạch hóa và đăng tải công khai trên cả báo chí Việt Nam lẫn Mỹ. Nhưng điều gì khiến tất cả mọi người đều xôn xao như vậy?
Câu trả lời chính là nằm ở việc ông Tô Lâm là người có thẩm quyền (về mặt đảng lẫn nhà nước – chính danh) nên lời nói có trọng lượng ( ngôn thuận). Việc ông công nhận những người Mỹ trợ giúp cho ông Hồ cũng là thay mặt nhà nước CHXHCNVN thừa nhận (sự đã thành).
II. Tính chính danh là gì?
Từ ví dụ trên, có thể định nghĩa tính chính danh như sau:
“niềm tin phổ biến của các thành viên trong một xã hội rằng quyền lực của chính quyền hay đảng cầm quyền là đúng, chính đáng, hợp lý, hợp pháp, và vì thế dân chúng phải phục tùng (Chính trị bình dân, Phạm Đoan Trang)
Cũng không cần phải nói đến tầm cỡ quốc gia, ngay tại những mối quan hệ bạn bè chúng ta cũng đã ngầm ủng hộ tiếng nói quyết định của một hoặc vài người trong việc đi chơi, đi ăn. Chính trị tồn tại ở ngay từng cá thể trong xã hội, tính chính danh cũng vậy.
Vì sao mày đồng ý xe cảnh sát, xe cứu thương được đi ngược chiều vượt đèn đỏ khi có còi báo hiệu? Vì mày ủng hộ tính chính danh mà cảnh sát đang làm (giữ gìn trật tự xã hội và trấn áp tội phạm) nó dựa trên thẩm quyền pháp luật được toàn xã hội công nhận
III. Làm sao để thiết lập tính chính danh?
- Dựa trên thần quyền/cha truyền con nối:
Nhà vua Trung hoa tự xưng mình là con trời, thay mặt trời để cai trị bách tính. Những quan lại là cánh tay của vua trong việc trị nước. Đó là cách người hoa hạ củng cố tính chính danh trong suốt 4000 năm kể từ đời nhà Thương Hạ.
Hoặc là họ có thể tạo ra một câu chuyện tương tự rằng nhà vua là con cháu của thần linh được chọn để làm người cai trị thế gian như ở Nhật Bản ( hậu duệ của cháu nữ thần Amaterasu là Ninigi, người mà theo truyền thuyết đã xuống từ Thiên đường )
Riêng ở châu Âu, tính chính danh của nhà vua/hoàng hậu dựa trên huyết thống ngàn đời từ các triều đại trước. Người dân thích sự ổn định và liên tục, nó đã trở trở thành truyền thống, không cần phải tranh cãi hay xét lại. Đồng thời ngoài huyết thống ra thì còn có sự công nhận của Giáo hội La Mã. (tượng trưng cho việc thay mặt Chúa trời cai quản lãnh thổ)
Đó là trường hợp của các vương triều cha truyền con nối. (Anh, Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Morocco [Ma-rốc], Saudi Arabia [Ả-rập Xê-út], Kuwait [Cô-oét], Thái Lan…).
2. Dựa trên lãnh tụ
Đây là những chính thể dựa uy tín của những lãnh đạo kiệt suất, có tài thu hút một lực lượng đông đảo quần chúng trở nên sùng bái cá nhân một cách mãnh liệt như niềm tin tôn giáo (khác ở chỗ là họ chỉ là người bằng xương bằng thịt).
Ví dụ như các chính quyền Napoleon (Pháp), Mussolini (phát xít Ý), Hitler (Đức quốc xã), Fidel Castro (Cuba cộng sản), Khomeini (Hồi giáo Iran), Lenin, Staline (Liên Xô), Mao Trạch Đông (Trung Quốc cộng sản), dòng họ Kim Nhật Thành (Bắc Triều Tiên), và Hồ Chí Minh (Việt Nam cộng sản), v.v
Nói cách khác, những chính quyền đó có được tính chính danh nhờ việc họ có một gương mặt cá nhân nào đó có sức hấp dẫn to lớn đối với dân chúng, được ngợi ca bởi công đức trời biển, được tôn vinh như “tiên đế”, “cha già dân tộc”, “khai quốc công thần”. Chừng nào nhân vật ấy còn được sùng bái, chừng đó chính thể còn có tính chính danh, và ngược lại, khi sự sùng bái của người dân đối với lãnh tụ kiệt xuất bị suy giảm thì khi ấy, tính chính danh của chính thể bắt đầu lung lay. Đến khi lòng kính trọng, tin yêu của dân chúng đối với lãnh tụ hoàn toàn chấm hết, thì chế độ không còn lý do để tồn tại.
Đó là lý do vì sao các chính quyền cộng sản như Liên Xô, Bắc Triều Tiên, Cuba, Trung Quốc, Việt Nam… phải sống chết bảo vệ hình ảnh vị “cha già dân tộc” của mình, kể cả hàng chục năm sau khi ông ta mất. Ở những xã hội này, sự kính trọng, tin yêu đối với lãnh tụ được xem như đạo đức, như một phẩm chất tốt đẹp. Nói xấu, phỉ báng lãnh tụ bị coi là trọng tội và bị pháp luật trừng phạt (Chính trị bình dân, trang 65).
3. Dựa trên tính hợp lý và hợp pháp
Đây là cách phổ biến nhất trên thế giới khi một chính quyền muốn củng cố tính chính danh của mình. Nó bao gồm:
- Được thành lập một cách hợp pháp, hợp lý;
- Có hiến pháp, luật pháp giới hạn quyền lực của nhà nước để không xâm phạm vào tự do của người dân;
- Có nhà nước pháp trị, tam quyền phân lập, các chức vụ nhà nước đều có nhiệm kỳ và được bầu cử công bằng, tự do.
Giờ mày đã hiểu vì sao cứ mỗi 4 hoặc 5 năm một lần đều có tổ chức một cuộc bầu cử rồi không? Mỗi chính quyền mới được sinh ra dựa trên việc phá hủy chính quyền cũ, thiết lập tính hợp pháp của nó mà không ai có thể chối cãi.
Ví dụ trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016, ông Donald Trump hoàn toàn thua bà Hilary Clinton trong việc giành đa số phiếu phổ thông.
Trong con số 231,56 triệu người có quyền bỏ phiếu thì chỉ có 1/4 bỏ phiếu cho Trump (25,5 %) và Clinton 25,6 %. 2% cho 4 ứng viên còn lại, 46,9 % không đi bầu.^([62])
^(Nhưng kết quả lại cho thấy ông Trump giành chiến thắng 276/538 phiếu đại cử tri. Dù cho rất nhiều lời ra tiếng vào chỉ trích nhưng chính quyền của tổng thống thứ 45 của nước Mỹ vẫn thành lập và duy trì quyền lực cho đến năm 2020.)
^(Đây là một trong những ví dụ tiêu biểu cho việc sự công nhận tính hợp pháp của cuộc tranh cử, dù nó có gây tranh cãi đến thế nào. Chúng ta thừa nhận nền dân chủ có những điểm yếu chết người nhưng vẫn phải công nhận nó là hệ thống hiệu quả nhất cho đến hiện tại của lịch sử loài người.)
4. Nhờ đạt thành tựu về kinh tế và/ hoặc đạo đức cũng như năng lực bảo vệ chủ quyền quốc gia
Bạn có thấy “nghe quen quen” không? Rất quen là đằng khác, bởi vì một nhà nước điển hình cho sự xây dựng tính chính danh kiểu này là láng giềng của Việt Nam, chung ý thức hệ cộng sản với Việt Nam: Trung Quốc.
Khi nhà nước cộng sản ở Bắc Kinh mới thiết lập được chính quyền (năm 1949), tính chính danh của nó có được nhờ những hứa hẹn với người dân về một đất nước hùng mạnh, xã hội cộng sản bình đẳng, quan chức trong sạch không tham nhũng, dân chúng ai nấy đều có việc làm ổn định và được bảo đảm về lương thực thực phẩm, y tế, giáo dục…
Dần dần về sau, những thành tựu kinh tế nổi bật, một nền quốc phòng mạnh đủ làm khu vực và thế giới khiếp sợ, trở thành cơ sở chủ yếu để nhà cầm quyền Bắc Kinh tạo và giữ được tính chính danh với nhân dân.
Người dân Trung Quốc cần những cái cớ để tự hào về đất nước, để lòng tự hào dân tộc của họ được ve vuốt, và có vẻ như đảng Cộng sản Trung Quốc cầm quyền đã giúp họ có được và duy trì những cớ đó. Đổi lại, dân chúng sẽ trung thành với chế độ và chấp nhận hy sinh một số quyền dân sự và chính trị.
Tuy thế, thành tựu kinh tế và sức mạnh quốc phòng có thể làm nên tính chính danh của một nhà nước thì cũng có thể làm cho tính chính danh ấy bị bào mòn, thậm chí bị xóa sạch, đến mức nhà nước phải sụp đổ. Khi nào kinh tế Trung Quốc sa sút, bất bình đẳng xã hội gia tăng, quân đội Trung Quốc thất bại trước một đối thủ nào đó… thì Bắc Kinh mất chính danh. Cần nhớ rằng, kinh tế suy thoái, phúc lợi xã hội không đảm bảo, chất lượng sống thấp kém, cũng là những yếu tố dẫn đến sự mất tính chính danh của các đảng cộng sản cầm quyền ở Đông Âu ngày trước. (Trong khi đó, họ lại không có vị lãnh tụ kiệt xuất nào như Lenin hay Stalin của Liên Xô)
Nhiều người Đức cho rằng các đài phát thanh truyền hình Tư bản đóng một vai trò quan trọng khiến chế độ cộng sản ở Đông Đức cũ thất bại trước Tây Đức dân chủ tự do, và nước Đức thống nhất. Ấy là do trước thời điểm thay đổi, những người dân Đông Đức đã được tiếp xúc với thông tin từ Tây Đức qua truyền hình.
Đặc ủy nhân quyền Đức Christoph Strässer kể với người viết trong một cuộc trò chuyện vào sáng 5/6/2015 tại Hà Nội:
“Ở CHDC Đức hồi đó, có quy định ăng-ten (antenna) chỉ được quay sang một hướng nhất định thôi, hướng đài truyền hình quốc gia. Nhưng nhiều người, ví dụ ở vùng Đông Berlin, vẫn sáng tạo lắm, họ làm cách nào đấy để nhận được thông tin, hình ảnh từ Tây Đức”.
> Và thế là dân chúng Đông Đức hiểu rằng trong khi họ đang phải “xếp hàng cả ngày”, phải tiêu dùng những hàng hóa chất lượng tồi, phải sống đời sống văn hóa-tinh thần nghèo nàn, xám xịt và bị kiểm soát, thì ngay sát bên họ, có một nước Đức khác. Một Tây Đức phồn vinh, mức sống cao trong một xã hội tiêu thụ đầy màu sắc rực rỡ, và có những ban nhạc như Modern Talking, Scorpions… Họ bắt đầu khao khát, ước mơ, hoặc là ghen tị, thèm muốn… Gọi là gì cũng được, tùy chúng ta nghĩ. Nhưng rõ ràng là đã có một thời truyền hình góp phần mở cửa ra thế giới, thúc đẩy ước mơ và dẫn đến thay đổi xã hội theo hướng dân chủ hóa.
IV- Bàn về Việt Nam
1. Bác Hồ
Ngay từ những ngày đầu của lớp 1, chúng ta đều có thể nhận ra tính chính danh của nhà nước CNXHCNVN dựa trên lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tất cả mọi lớp học, mọi cơ quan nhà nước, các áp phích băng rôn tuyên truyền đều để hình ông Hồ. Trẻ em được dạy về câu chuyện ra đi tìm đường cứu nước, bôn trải 30 năm rồi chuyện thành lập Đảng Cộng Sản ở Hongkong vào ngày 3/2/1930.
Lũ trẻ sẽ được đưa vào Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh để được giáo dục tư tưởng về lãnh tụ và Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Câu chuyện sau đó vẫn rất quen thuộc: cách mạng tháng 8 cướp chánh quyền, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh biên giới, Đổi mới 1986 và gần đây nhất là tốc độ phát triển GDP thần tốc. Đó đều là những câu chuyện mang màu sắc thần thoại, một Đảng lãnh chiến thắng mọi kẻ thù và cuộc chiến mà nó tham gia được sự lãnh đạo của một Lãnh tụ xuất sắc và khôn khéo.
Sau đó là hàng loạt những câu chuyện anh hùng lồng ghép vào trong các giờ dạy lịch sử cũng như sinh hoạt đoàn đội. Những đứa trẻ này sau khi tốt nghiệp sẽ được dạy kỹ hơn về mặt tư tưởng Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đối với Đảng viên càng được học thấm sâu hơn nữa để tư tưởng không bị lung lay lệch lạc bởi những thế lực thù địch.
2. Bầu cử dân chủ
Mày không nghe nhầm đâu. Chính những cuộc bầu cử “ngày hội non sông” cứ mỗi 5 năm/ lần chính là cách để Đảng củng cố tính chính danh trong mắt người dân. Vì sao ư?
Vì chính người dân (tự nguyên hoặc không) đi bầu cho những người được gọi là ĐBQH do Đảng đề cử sẽ thành lập Quốc Hội. Từ Quốc Hội sẽ bầu nên những quan chức Chính phủ cũng như Tòa Án , Viện kiếm sát tối cao.
Mọi chủ trương, đường lối của Đảng sẽ thông qua Quốc hội quyết định một cách “hợp pháp” trở thành luật hiến định có tính thẩm quyền phổ biến trong xã hội. Ngay cả những nhân sự cũng là do Đảng quyết và Quốc hội thông qua.
Hiểu vì sao hồi tháng 4/2024 Đảng phải họp BCH TƯ để phế truất Võ Văn Thưởng và sau đó phải họp Quốc hội bất thường chưa? Vì chỉ có Quốc hội mới có tính hợp pháp thay mặt Đảng thông qua việc miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch nước. Trường hợp Vương Đình Huệ cũng tương tự.
Theo ngôn ngữ lý luận tuyên giáo thì nó sẽ được màu mè hoa lá một chút: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Dân làm chủ.
Đảng lãnh đạo cái gì? Là chủ trương, đường lối, nhân sự chủ chốt cho dân bầu được Đảng mà đại diện là Bộ chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung Ương cho đến cấp cơ sở.
Nhà nước quản lý cái gì? Quốc hội lập pháp, Chính phủ hành pháp, Tòa án tư pháp
Dân làm chủ cái gì? Bầu cho chính những người Đảng chọn như trên.
3. Thành tựu kinh tế
Giống như cách của TQ, ĐCSVN không ngừng đẩy mạnh tuyên truyền về những thành tựu kinh tế như: GDP phát triển 5-6%, gia nhập WTO, ASEAN, FDI vô đầu tư hàng chục tỷ đô, bla bla ….
Mục đích của việc này không đơn giản chỉ là tự ca tụng cho chính Đảng mà còn là tạo bánh vẽ cho người dân về một tương lai tươi sáng, có công ăn việc làm ổn định, thu nhập tăng theo thời gian. Người dân sẵn sàng chấp nhận đánh mất một phần tự do sẵn có để được ổn định giả tạo.
Kể cả chính họ có nhìn ra được những sự thật về sự bất công của một xã hội thối nát đi chăng nữa thì ok họ vẫn cúi đầu cam chịu, chọc đui mù chính mình cốt làm sao cho thấy chính bản thân thấy “ổn” là được.
Sự hợp lý hóa thường là một cách để biện minh hoặc bào chữa cho những sai lầm. Bằng cách hợp lý hóa những hành vi gây tranh cãi, con người có thể tránh đặt mình vào tình thế tiêu cực. Như đã đề cập, cơ chế phòng vệ này thường được sử dụng một cách vô thức. Tuy nhiên, nó thường được sử dụng như một cách để tránh bị chỉ trích từ người khác.
Kết luận: Đảng đã rất thành công trong việc củng cố tính chính danh của mình trong mắt dân chúng. Nhưng có một điểm yếu chết người mà họ không thể che mắt được: kinh tế và chủ quyền.
Kinh tế: Người dân được ăn no, có bánh mì và rạp xiếc để thỏa mãn với thực tại vậy khi kinh tế suy thoái thì thế nào? Những vấn đề như giá nhà đất cao khủng khiếp, tỷ lệ sinh thấp, XKLD giá rẻ mạt và cả những ảnh hưởng từ nền kinh tế thế giới. Đây chính là hạn chế thứ nhất.
Bảo vệ chủ quyền: Người Việt Nam rất nhạy cảm với kẻ thù phương bắc, họ không bao giờ chịu chấp nhận luồn cúi trở thành một chư hầu khi cảm thấy bị đe dọa. Cuộc biểu tình Dàn khoan Hải Dương 981 hay ở Bình Thuận khi luật đặc khu/an ninh mạng trực tiếp động chạm đến sự nhạy cảm của họ. Ngay tại triều đại của ông Nguyễn Phú Trọng, các vấn đề biển đông rất ít khi nào được nhắc đến, một sự nhạy cảm kỳ quặc. Nếu chính quyền Việt Nam tiếp tục nhân nhượng Biển Đông thì ngay cả chính những đảng viên trung thành nhất cũng sẽ bắt đầu thắc mắc về sự tồn tại hợp lý của chế độ XHCN này.
Leave a comment